Mat ma Champa
by On June 1, 2014
359 views

 


Tắc đường. Mi bảnh mắt đã ùn đống tại các ngã ba mà trước đây chưa bao giờ tắc. Lê Đại Hắc đi ngược chiều giữa một đám đông ngơ ngác. Từ Mỹ Sơn tỏa sang vùng lân cận có tới bảy chốt đã được cấp tốc lập ra để chặn bắt thủ phạm. Chẳng mấy ai tin vào cách này nhưng Lê Đại Hắc thừa nhân lực để không bỏ sót phương án nào dù là thô sơ nhất. Tuy chưa biết hung thủ thuộc thành phần nào nhưng ông ta chắc chắn đó là một kẻ tà đạo khát máu có bộ mặt gớm giếc. Sáng nay ông đã thẩm vấn ngót chục đối tượng khả nghi có tiền án tiền sự nhưng không hé ra được manh mối gì. Kẻ sát nhân chọn hiện trường là khu di tích tôn giáo, cách giết người lạ lùng với những nghi lễ chưa từng có đã buộc ông chú ý đến các đối tượng khác người.


Cuộc trao đổi với viên kiến trúc sư trên hiện trường đã trang bị cho ông một cặp kính mà ông tin có thể nhìn sâu hơn vào các tổ chức ma giáo. Các thầy lang, thầy cúng, thầy phù thủy và các gia đình có thân nhân bị bệnh đưc cho là ‘’ma ám’’ được ông cho người theo dõi. Tuy nhiên ông để mắt nhiều hơn đến các các đạo sĩ, trí thức, những người mà ông tin rất thông tường pháp thuật và nghi lễ của phái Balamon. Họ có thể là các giáo sư, tiến sĩ, nhà nghiên cứu hoặc đơn giản những kẻ cuồng tín hay mang bệnh hoang tưởng. Trong khi ông đang cho lính ráo riết săn lùng khắp hang cùng ngõ hẻm thì hung thủ có lẽ đang giảng đạo trên thánh đường, trên bục giảng, hoặc ngồi trong công sở hay đang vùi đầu trong thư viện với các cuốn sách cổ kinh dị.


Lê Đại Hắc nảy ra ý định gặp ngay hội đồng khảo cổ, nơi tập trung rất nhiều đoàn chuyên gia đang thất sủng sau khi buổi khai quật bị hủy đột ngột. Tên hung thủ biết đâu là một trong số họ, hoặc nếu không thì nhóm trí thức kia sẽ giúp ông gỡ rối phần nào mối tơ vò này.


Máy cầm tay reo vang, ông nghe xong rồi nói.


- Đoàn nào đến?... Khẩn trương lắm hả?... Bảo họ đợi chốc lát, tôi sẽ về ngay.


Hóa ra không chỉ ông muốn gặp các nhà khảo cổ, mà chính họ cũng đang cần chất vấn ông. Lê Đại Hắc dập máy rồi lên xe trở lại đại bản doanh của mình. Về đến nơi, ông đã thấy một nhóm người ăn mặc lịch sự, kẻ đứng người ngồi đầy vẻ nôn nóng trong phòng khách và nổi bật nhất là giáo sư Huỳnh Lẫm.


- Xin chào các vị, các vị đợi tôi đã lâu?


- Chào ông cảnh sát, tìm ra hung thủ chưa? – Giáo sư Huỳnh Lẫm hỏi.


- Tôi đang muốn tìm các vị giúp sức đây. - Lê Đại Hắc lắc đầu đáp.


Giáo sư Huỳnh Lẫm nói:


- Lẽ ra không đến phiền ông nhưng chúng tôi vừa nhận được một công văn khẩn từ Bộ ngoại giao giới thiệu một chuyên viên người Campuchia sang làm việc.


Lê Đại Hắc nhìn thấy một người đàn ông da ngăm đen ngồi bên cạnh vị giáo sư.


- Xin tự giới thiệu, tôi là Sray Ka Mou, phó chánh văn phòng Bộ Du lịch campuchia. Paul Morierre đang mang một số tài liệu tối mật liên quan đến Campuchia. – Người khách nói. - Nếu tài liệu này lọt ra ngoài thì hậu quả khó lường nổi. Chính vì lẽ đó mà tôi được cấp tốc phái sang đây gặp các ông.


- Tìm tài liệu nào? tôi chưa hiểu?


- Tôi sẽ giải thích.Giáo sư Huỳnh Lẫm rút ra một cuộn hồ sơ rồi nói. - Thưa ngài cảnh sát, Paul đang nắm tài liệu về một kho báu bí mật trong lòng đất thuộc lãnh thổ Campuchia. Nếu kẻ xấu lấy được tài liệu này thì chúng sẽ tìm thấy kho báu đó. Vì vậy người ta cần ông tìm kiếm và thu lại ngay các giấy tờ này.


- Gay thế cơ hả, chúng tôi đang vã mồ hôi hột tìm hung thủ đây. Mà có gì thì cũng chờ chúng tôi bắt được chúng đã chứ.


Tuy nói vậy nhưng Lê Đại Hắc vẫn đón lấy tập hồ sơ ra xem. Ông biết đây là một công trình cổ kính chứa nhiều hiện vật quý. Kẻ ngoại đạo như ông không đánh giá hết ý nghĩa.


Giáo sư Huỳnh Lẫm nói tiếp:


- Phần lớn tài liệu này đang trong tay Paul. Hay nói đúng hơn là số tài liệu về kho báu này Paul đã chuyển cho chính phủ Campuchia một phần rồi. Ông ta chỉ giữ trong người phần cốt yếu nhất để đích thân đi khai quật kho báu này nhưng chưa thành thì đã gặp nạn như ông biết.


Lê Đại Hắc nghe qua đã thấy độ khẩn cấp và sức nóng của công việc. Hóa ra đây là một chuỗi hậu quả dây chuyền sau cái chết của Paul, vụ việc đã vượt ra khỏi phạm vi biên giới. Điều này gợi ra một hướng điều tra mới mà ông chưa bao giờ nghĩ tới, đó là: động cơ giết người là vì tài liệu. Do đó thủ phạm có thể sẽ chạy sang Campuchia – hướng về kho báu.


Lê Đại Hắc nói.


- Chúng tôi đã khám hiện trường nhưng không thấy gì. Nạn nhân đã bị lột trần truồng không còn thứ gì trên người. Nếu ông ta mang gì đó theo người thì chắc chắn đã bị hung thủ mang đi rồi. Chúng tôi đang căng ra tìm hung thủ và có gắng thu về mọi tang vật.


- Có lẽ tài liệu này chưa hẳn đã nằm trong tay hung thủ. - Giáo sư Huỳnh Lẫm nói. – Paul thừa khôn ngoan để cất giấu nó hoặc gửi cho một người thân cận nào đócủa ông ta.


- Theo giáo sư thì ai là người thân cận?


Tất cả nhìn nhau nhưng không cất tiếng. Lê Đại Hắc nói.


- Các ông cứ suy nghĩ cho kĩ những ai đang nhòm ngó kho báu này. Chỉ có những kẻ có học mới đủ tầm làm những việc như vậy. Các ông là người trong nghề nên dễ nhận dạng bọn họ. Các vị ngại nói ra ở đây thì có thể nhắn tin vào máy cho tôi. Còn bây giờ tôi có việc rất gấp phải đi ngay.


Lê Đại Hắc đứng dậy đi ra cửa. Từ khi xảy ra án mạng ông tập trung chỉ đạo truy tìm hung thủ nên ông đã coi nhẹ căn phòng của nạn nhân ở Rex. Tuy đã báo cho cảnh sát khu vực đến niêm phong nhưng ông không mấy tin vào sự khẩn trương của họ. Lê Đại Hắc bỗng dưng thấy nôn nóng khác lạ, nếu Paul có một tài liệu tuyệt mật tầm cỡ như vậy thì chắc chắn đang nằm trong két sắt ở khách sạn. Ông lao ra ngoài gara, một phút sau chiếc Land Cruiserchở nhóm cảnh sát lao hết tốc lực về phía Đà Nẵng.


 


 


                       ***


 


Kì Phương mở ba-lô lấy tờ giấy anh chép dòng chữ sáng nay ra so với dòng chữ trong bức ảnh.Thật kinh ngạc. Hai chữ này là một. Vậy làchữ đó đã từng xuất hiện tại một thánh địa khác ở một thời điểm khác. Kì Phương gợn lên một nỗi hoang mang rằng liệu những gì xảy ra với Paul sáng nay có giống như vợ ông ta ở Naga 12 năm về trước không? Nếu đúng thì cái chết của Paul đã được lập trình từ trước và hôm nay, tên sát thủ đã trở lại.


- Ai giết mẹ cô? – Kì Phương đột nhiên hỏi.


- Tôi không biết.


- Ba cô phải biết chứ?


- Tiếc rằng ba tôi cũng không nhìn thấy kẻ giết người. Đó là cái chết khủng khiếp đã ám ảnh ba suốt bao năm nay. Đã có lần trên giường bệnh ba tôi đã mê sảng và hét lên rằng ‘’Đừng giết ta, đừng giết con ta’’. Rõ ràng có ai đó muốn giết ba con tôi.


Kì Phương suy ra một điều rằng Paul đã bị một lực lượng nào đó đeo bám để trả thù từ khi rời kho báu Naga. Sáng nay giáo sư Huỳnh Lẫm đã vô tình gieo một câu mà anh cứ nhớ mãi ‘’chưa có kẻ nào đụng vào thần hộ mệnh Chăm mà toàn mạng trở về’’. Kì Phương cố gạt nỗi ám ảnh trong đầu rồi lật các trang sách hòng tìm chứng tích nào đó về hung thủ nhưng các bức ảnh còn lại chỉ là hang động âm u không có sự sống.


- Ba có bao giờ tiết lộ thánh địa này ở nơi nào không?


- Không, không bao giờ. - Thi Nga lắc đầu dứt khoát. – Ba nói vị trí này phải được giữ tuyệt mật vì tính mạng của tôi. Ba sợ tôi sẽ tìm cách vào đó và sẽ lại mất mạng... Ba nói nó là thánh địa có chủ hàng mấy thế kỉ nay. Những chủ nhân bí ẩn này sẵn sàng có mặt bất cứ đâu để ban cái chết cho bất cứ ai nhăm nhe xâm phạm. Ba mẹ tôi may mắn đã đặt chân đến đó nhưng mẹ tôi đã không thể trở về. Ba tôi căm thù chúng đến tận xương tủy và thề rằng ngày lôi chúng ra ánh sáng không còn lâu nữa!


- Nhưng ba đã...- Kì Phương định nói chết rồi nhưng may kìm được. Tuy rất dằn vặt nhưng anh vẫn trấn an lòng mình rằng tìm xong Naga anh vẫn kịp đưa cô về viếng ba mình. Hơn nữa, linh hồn và thể xác mẹ cô thảm thương hơn vì đã mười hai năm không người nhang khói.


Nhìn Kì Phương đứng ngây người, Thi Nga giằng lấy cuốn sách trong tay anh rồi nói:


- Nếu anh sợ, tôi sẽ đi tìm Naga một mình.


- Ơ kìa. - Kì Phương giằng lại cuốn sách. – Ai bảo tôi sợ? mà cô biết Naga đâu mà đi một mình?


- Tôi sẽ tự đi tìm.


Kì Phương không hiểu cô gái này sẽ tìm cách nào giữa núi rừng bao la xứ người. Mà tình cảnh cô lúc này cũng rất éo le, ở lại cũng không ổn, đi cũng không xong và anh không nỡ bỏ cô lúc này.


- Tôi sẽ đi cùng cô.Chúng ta sẽ cùng đi Naga.


- Anh không sợ tai vạ à? Nếu có mệnh hệ gì thì sao?


Thật tình Kì Phương cũng rất ớn khi nghe kể và nhất là tận mắt thấy xác Paul nhưng đến nước này mà rút lui thì ê mặt nam nhi. Anh cất cuốn tài liệu vào balô rồi nói.


- Tôi chỉ lo cho thân gái của cô thôi.


Nhìn thấy sự quyết tâm của Kì Phương, mặt cô rạng rỡ trở lại.


- Chúng ta phải tìm ra Naga trước chiều mai. - Cô nói.Nếu muộn hơn e phải đợi thêm... mười hai năm nữa đấy.


Kì Phương gật đầu rồi nói nửa thật nửa đùa.


- Không bản đồ, không manh mối, không người dẫn đường, hi vọng mười hai năm sau tìm thấy là vừa.


- Tại sao lại không có manh mối chứ?


Kì Phương chợt nhớ ra mẩu giấy của Paul và cả dòng chữ trên yoni. Rất có thể con đường đến Naga đang ẩn trong đó.


- Chắc cô biết tiếng Chăm chứ?


- Tôi chỉ học một ít qua ba thôi.Cô đáp thoáng chút ngượng ngùng.


- Thế là tốt, hơn một trăm ba mươi ngàn người Chăm trong nước cũng chỉ vài chục người đọc thông viết thạo tiếng mẹ đlà cùng. Còn để đọc được tiếng Chăm cổ thì chỉ đếm đầu ngón tay.


- Mà anh hỏi để làm gì?


Kì Phương đưa cho cô tờ giấy có dòng chữ Chăm lạ.


- Anh lấy đâu ra?


- Sáng nay tôi thấy trên yoni nên đã chép lại đấy.


- Yoni nào? tại sao tôi không thấy gì nhỉ?


- Yoni có máu đấy. Sáng nay nó mới hiện rõ hơn, mà quan trọng là cô có hiểu chữ này là gì không?


Thi Nga ngơ ngác nhìn dòng chữ hồi lâu rồi hỏi.


- Đây đâu phải tiếng Chăm?


- Đây không phải là chữ thảo Akhar Thrah, nhưng có thể là một chữ Chăm cổ. Cô nên nhớ là từ thời lập Quốc đã có đến hàng trăm phiên bản đấy.


Thú thực Kì Phương cũng không thể biết hết người Chăm đã sáng tạo ra bao nhiêu và khai tử bao nhiêu loại chữ. Là một người Kinh, anh không khỏi mến mộ và khâm phục tổ tiên người Chăm đã tô những nét son đặc sắc có một không hai cho nền văn hóa lâu đời trên dải đất chữ S này. Anh đã dành trọn ba năm để học chữ Chăm cổ nhưng giờ cũng chỉ đạt đến mức trên đánh vần mà thôi.


Ngoài chữ thảo Akhar Thrah có từ thời vua Pô Rôme đã tròm trèm năm thế kỉ thì còn vô số phiên bản cổ xưa hơn nhiều. Chữ Chăm cổ đó lại được phân ra nhiều loại khác nhau như chữ thánh Akhar Rik, chữ con nhện Garlimang, chữ bí ẩn Akhar Yok và nhiều chư lai Arập và Mã Lai nữa... Sự phân loại còn dựa trên vật liệu để viết: chữ Hayep viết trên bia kí, kim loại, chữ Baar viết trên giấy, chữ Agal viết trên lá buông, chữ Tapuk viết trên giấy gió... Chính vì quá nhiều và phức tạp nên hầu như không ai có thể liệt kê hết bao nhiêu chữ Chăm cổ. Nhìn tờ giấy xong Thi Nga lắc đầu.


- Tôi chịu, có vẻ như là chữ trên bùa chú?


- Không phải, chữ trên bùa chú của người Chăm thường là hình vẽ hoặcviết phăng trên nền chữ Akhar Thrah nên xem qua là dễ đoán được ngay. Vả lại ai đó vẽ bùa lên đây để làm gì chứ?


- Hay đây là một loại bùa chú của dân tộc khác muốn trấn yểm người Chăm?


- Ý cô muốn nói tộc Kinh của tôi chắc?


- Tôi thấy hao hao giống bùa chú của phái... Mật tông Tây tạng!


Kì Phương nhìn cô đầy tâm đắc nhưng không ngại lắc đầu phủ nhận. Quả thật, cô ta có trí nhớ hình ảnh khá tốt. Lúc sáng, khi thấy vòng chữ này anh cũng vội vàng liên tưởng đến một loại bùa chú hình tròn trong Phật giáo Tây tạng Mật tông gọi là thần tài Chú luân. Về cơ bản,Chú luân là các lời thần chú bằng chữ Phạn xếp theo hình tròn hướng vào một chữ lớn hơn nằm chính tâm hình tròn, còn tâm của vòng chữ này thì lại trống không.


- Không liên quan gì đến Tây tạng hết. – Anh đáp.  


- Vậy theo anh?


- Tôi cũng chịu, có lẽ nó đã chết.Anh buồn bã đáp.Cũng như ngôn ngữ của bất kì dân tộc nào, chữ Chăm cổ cũng chịu sự biến động. Chữ cũ chết đi hoặc mang nghĩa mới, chữ mới lại được được sáng tạo ra. Nhưng với dân tộc Chăm, bởi hoàn cảnh đặc thù nên chữ chết nhiều hơn sống, và hệ quả là chúng ta không đọc được nó nữa. Người Việt bây giờ mấy ai còn đọc được chữ Việt cổ nữa. Nhưng ta không bàn chuyện này nữa, tôi tạm gọi chữ này là chữ Chăm cổ. Bất luận nó mang nghĩa gì thì cô cũng nhìn thật kĩ và nhớ lại đã thấy chữ này bao giờ chưa? Ví dụ trong một cuốn sổ tay, trên một chiếc bình, trên một pho tượng hay một vật lưu niệm nào đó của ba cô chẳng hạn? Theo tôi nghĩ, nó sẽ giúp ích cho ta tìm ra Naga đấy.


- Chẳng có ích gì đâu, bây giờ chả còn tâm trí đâu mà nhớ được. – Cô nhăn mặt nói.


Kì Phương biết muốn giải nhanh một mật mã cần có một bản khóa chứ không thể làm mò như sáng nay được. Tuy nhiên hai thứ này không bao giờ ở gần nhau bởi sau khi mã hóa, chìa khóa luôn bị cất giấu càng xa ‘’ổ khóa’’ càng tốt. Kim tự tháp bằng vàng của hội Tam điểm và bản di cảo nổi tiếng của tu sĩ Roger Bacon người Anh thời Trung Cổ sau hàng thế kỉ cũng không thể giải mã bởi không tìm thấy chìa khóa.


Kì Phương lôi cả bảng kí tự lẫn chữ Chăm cổ đặt lên bàn và tự hỏi đã đủ khóa lẫn chìa hay chưa. Tim anh đập rộn lên khi thấy các con chữ đang nhảy múa trước mặt. Kì Phương lấy bút tách rời chữ Chăm cổ ra từng nguyên phụ âm rồi cố thay nó bằng các kí tự latin xem có ra từ ngữ gìkhông. Trong khi anh đang đánh vật với núi chữ mới thì Thi Nga đi đi lại lại rất sốt ruột mà không biết làm gì. Đây là một sự lãng phí ghê gớm. Trong xử lí mật mã theo nhóm rất kiêng kị người làm người chơi hoặc cả nhóm cùng xúm vào một thứ. Anh đưa bản tiếng Chăm cổ rồi nói.


- Cô nghĩ chữ này đi!


Kì Phương lấy bảng 8 kí tự ra xem lại. Nếu tiếp tục mò mẫm e không đủ thời gian, giờ đây anh mong được thấy ‘’chìa khóa’’ ở đâu. Đầu anh vội lóe lên ý nghĩ: hay là Paul đã trao bí quyết giải mật mã này cho con gái trước khi sang đây.


- Thi Nga! – Anh gọi giật cô lại. – Ba cô có đưa cho cô cái gì đại loại như mật khẩu hay công thức nào đó không?


- Không. – Thi Nga tròn mắt. – để làm gì cơ chứ?


- Đó là cách giải mật mã, chắc chắn đã đưa mà cô không để ý đó thôi. Đôi khi đó là một câu ca dao hay hò vè nữa đấy, nhưng thực chất là một kiểu hướng dẫn giải mật thư.


Thi Nga lắng nghe đầy lạ lẫm. Cô lục trí nhớ xem ba có nói câu gì kiểu ấy không nhưng ngoài mấy bài thơ loàng xoàng ông tự làm thì không có gì đặc biệt lắm.


- Ba tôi không nói gì. Có khi ba viết vào sổ tay thì sao?


- Không, phải trao tận tay cho cô cơ.


Thi Nga vội lấy tờ giấy trên tay anh lật ra mặt sau săm soi nhưng bị Kì Phương giật lại.


- Không có ở đây, chẳng ai khóa xong lại treo chìa bên cạnh ổ khóa cả.


- Ba tôi thế đấy, khóa cửa xong nhét chìa khóa lên ô văng luôn.


Mật mã đôi khi cũng như khóa cửa, khóa xong mang chìa trao cho thành viên khác trong gia đình hoặc giấu trong khe hở mà chỉ có họ mới biết. Trường hợp Paul chưa kịp trao mã khóa cho Thi Nga thì rất có thể ông đang giấu ở ‘’ô văng’’ nào đó mà chỉ có cô mới nhận ra. Cách giấu tưởng như cẩu thả như vậy nhưng là nơi khó ngờ nhất.


Lại phải mò tiếp nhưng lần này anh quyết mò khoa học hơn. Để đi trúng đích, Kì Phương phải hóa thân thành Paul để nắm kĩ công việc, sở thích và sở trường của ông ta để có hướng đi hiệu quả. Xem ra mục đích chính của Paul trong chuyến này là khai quật thánh địa Naga nên khả năng bản mã sẽ xoay quanh Naga. Dùng các kí hiệu của Mỹ Sơn để ngầm chỉ Naga là một thủ thuật đánh lừa mà thôi.


Khả năng bảng kí tự ông viết sẽ dẫn đến một đầu mối khác đang giấu ở Mỹ Sơn. Dòng kí tự đầu tiên A5D6. Ở đây D6 chưa hẳn là tháp D6 mà là chữ Door – 6 viết tắt. Paul xuất thân từ kiến trúc sư, quy tắc quốc tế đánh kí hiệu cửa đi trong các bản vẽ kiến trúc là D1, D2... Vậy là ý đồ của Paul có thể là:


A5D6 có thể là cửa đi thứ 6 của tháp A5.


Và E3C8 có thể là cột (column) thứ 8 của tháp E3        .


Một niềm hi vọng mãnh liệt lóe lên trong óc Kì Phương. Cửa đá và cột đá của tháp Chăm luôn khắc đầy minh văn và ẩn chứa vô số điều bí ẩn. Nếu nói đó những trang sách cổ bằng đá cũng không ngoa. Tuy không chuyên nghiệp bằng các nghệ nhân bậc thầy láng giềng Angkor nhưng các bia kí Champa ngoài giá trị văn học còn xứng đáng là một tác phẩm điêu khắc có giá trị nghệ thuật không hề thua kém. Theo các truyền thuyết, vua chúa Champa sau khi chôn giấu kho báu rồi để lại di chỉ bằng các bài thơ thể loại Arya hoặc Malini trên các phiến đá.


Hồi trước, Kì Phương không hiểu sao có một dạo các ngôi đền thờ Thần tài lộc Kubera của người Chăm đều bị đào bới khắp nơi như một dịch nạn mà không ai điều tra được. Rất lâu về sau, trong một dịp phục dựng một ngôi tháp anh vô tình nhìn thấy một phiến đá kí hiệu số V trong bảo tàng Chăm. Đó là bài minh của vua Prakasadharma khắc trên một bệ thờ gồm hai câu thơ Sloka bằng tiếng Phạn ‘’Ngôi đền Kubera - bạn của Mahesvara...’’. Câu thơ này bị tróc mất chữ sau cùng. Bài thơ đó tồn tại hàng trăm năm nay không ai quan tâm cho đến khi các ngôi đền Kubera bị đào bới. Thế thì ẩn số nằm ở dòng chữ bị mất. Kì Phương đã lùng sục khắp các thư viện để tìm nguyên bản câu thơ và anh đã truy ra chữ bị mất là ‘’ nơi cất của cải’’. Vỡ lẽ tất cả. Không biết mấy tay đạo tặc kia có tìm thấy ‘’của cải’’ gì hay không nhưng có lẽ dù sống lại, các thi sĩ Ấn Độ cũng không ngờ nổi thơ của mình lại làm trúc đền đổ chùa đến vậy. Đầu óc Kì Phương mau lẹ kết nối các kinh nghiệm trong quá khứ rồi quyết định phải tìm ngay cánh cửa đá D6 và cột C8.


- Tôi nghĩ ra rồi? – Kì Phương vui sướng thốt lên.


Thi Nga vội vàng ập đến.


- Anh đã tìm thấy bản đồ rồi sao?


Kì Phương bỗng dưng im lặng, anh đã quá bộp chộp khi làm Thi Nga cụt hứng. Các tháp này đã...không còn nữa. Hai tháp A5E3 đã bị phá hủy hoàn toàn. Trước đây các nhà khảo cổ đã bới trong đống tàn tích kia vài cấu kiện nhưng không còn đầy đủ và nguyên vẹn nữa.


- Nói đi. – Thi Nga giục.


- Di chỉ ngay trên tháp, nhưng các tháp này đổ nát hết rồi.


Thi Nga không ngạc nhiên, đêm qua cô đã phát khóc vì quang cảnh tiêu điều ở đây. Cô nói:


- Nhưng các mặt chữ trên đá chưa vụn ra là được.


Kì Phương cũng tin như vậy, đống hoan tàn khu B do bị bom đánh sập nhưng các mặt chữ trên đá còn nguyên. Nhưng anh lại phát hiện ra mình nhầm chỗ khác. Các tháp chỉ có một và tối đa là hai cửa nên D6 cũng không thể là cửa thứ 6 được. Anh nói.


- Tôi định tìm các cánh cửa, nhưng không có tháp nào có trên 6 cửa cả.


- Sao lại không, tôi đã thấy những tháp Chăm có tới 10 cửa đấy.


Kì Phương bật cười với nét ngô nghê của cô ta nhưng anh vội nhận ra đây là một lời nói rất hay. Đúng là các tháp dài đón khách hành lễ có hai dãy cửa hai bên nhưng đó là những của giả. Vấn đề thật giả trong trường hợp này không quan trọng miễn là nơi đó có văn khắc. Thế nhưng rất tiếc, các ô cửa giả đã bị các tu sĩ bằng đá hoặc các vị thần chiếm chỗ. Kì Phương buồn bã nói.


- Cái ta cần là một cách cửa đá có văn khắc, nhưng tháp này chỉ có đúng một cửa thật.


- Sáng nay tôicó thấy cánh cửa đá nào đâu, chỉ trơ mỗi khung mà thôi.  


- Khung cửa?- Kì Phương reo lên. - Đúng đấy. Mỗi bộ khung có hai đà dọc và một đà ngang, mỗi đà có ba mặt nên tổng cộng có tới chín mặt khắc chữ. D6 là mặt thứ 6 của khung đó.


Kì Phương suýt bỏ quên mất thành tố này, tháp Chăm vốn là chủ thể của của hàng ngàn công trình nghiên cứu khoa học từ trước tới nay. Từng bệ móng, viên gạch, mạch vữa, mi cửa, phù điêu cho đến các chỏm tháp đều đã có vô số đề tài soi rọi và mổ xẻ. Nhiều cấu kiện bằng đá như cột góc, khung cửa, rầm cửa rất được chú ý bởi ở đó lưu rất nhiều các văn bản rất quý. Nếu cánh cửa là trang sách thì khung cửa là bìa sách. Hàng trăm cuốn sách này đã bị ‘’rút ruột’’ trống rỗng nhưng mấy trang bìa vẫn ngạo ngh và ‘’trơ gan cùng tế nguyệt’’.


Một chiếc cột ở Mỹ Sơn của vị tân vương Paramabodhisatva khắc năm 1081 cho biết ông ta lên ngôi năm nào và dâng cúng cho thần bao nhiêu vàng bạc, ngọc ngà châu báu. Để biết thêm số của cải khổng lồ này cất đặt ở đâu sau khi cúng tế, các nhà khoa học đã truy tìm tất thảy những gì có chữ ghi trong tháp. Tương truyền, tất cả những bài thơ tả cảnh sông núi hữu tình khắc trên đá là ám hiệu những vị trí chôn giấu của cải đã nói trong ngôi tháp đó.


Một khung cửa và một cột đá là cái Paul phím cho anh thật sao? Kì Phương phấn khích như cậu học trò vừa giải xong bài toán khó, anh nói chắc nịch.


- Đúng là ba cô treo kho báu trên khung cửa, chúng ta phải tìm cách hái xuống.


- Lại quay lại Mỹ Sơn? – Cô lo lắng hỏi.


- Không, mấy cái cột đá này đã mang vào trong bảo tàng Chăm từ lâu. Chúng ta đến đó để xem các trang sách này viết gì, mà biết đâu chính hôm qua ba cô đã dùng phấn viết đè lên đó.


Cả hai háo hức xách túi định đi ra thì điện thoại Kì Phương reo vang, anh lập cập khi nhận ra giọng giáo sư Huỳnh Lẫm.


- Này, tìm được cô ta chưa? – Ông ta gào lên.


Bây giờ anh mới sực nhớ lời ông dặn.


- Em cũng vừa tìm được cô ta nên...


- Hiện anh chị đang ở đâu?


- Dạ, bọn em đang trong...khách sạn.


-Trời ạ! Các người làm quái gì đó mà lâu thế?


Kì Phương tiến về cửa sổ tránh xa Tha Thi nhưng hình như ông cố tình gào lên để cô nghe thấy.


- Nguy hiểm! Hãy kéo cô ta trốn đi ngay lập tức!


Giọng nói khô khốc lẫn tiếng huyên náo trong máy vụt tắt. Kì Phương thò đầu qua cửa sổ ngó xuống sân lạo nhạo người ra vào mà mường tượng đến tên sát thủ cải trang đang lẻn vào khách sạn tìm Thi Nga. Không chỉ thế, nhìn đống hành lí ngổn ngang giữa nhà anh chợt thấy mình đang vi phạm nghiêm trọng đến tài sản của nạn nhân. Sau vụ phá nát hiện trường, anh đang tạo thêm dấu vết dễ ngộ nhận liên can đến vụ án mạng và đây là cái cớ để cảnh sát đưa anh vào buồng thẩm vấn.


‘’Nguy hiểm! Hãy kéo cô trốn đi ngay lập tức’’. Giáo sư Huỳnh Lẫm thật đúng lúc.


- Thi Nga, chúng ta cần ra khỏi đây ngay!


Thi Nga thoáng ngỡ người nhưng cô vội hiểu rằng nếu nán thêm một phút nữa, cô sẽ không thể ra khỏi phòng chứ đừng nói là ra khỏi Việt Nam. tùa mấy cuốn sách xem dở vào ba lô rồi đứng vụt lên. Kì Phương thấy cô lấy quá nhiều thứ của Paul nên định can ngăn nhưng anh lại nghĩ: con gái ông ta có quyền đó. Kiểm tra nhanh giấy tờ tùy thân và tư trang tối cần thiết, hai người đẩy cửa lao ra khỏi phòng.

6 users reacted this
mydung
doi phan ke tiep lau qua di hihihi
Ánh Văn Hán
hóng tiếp nào Smile))
prancham
vì tập kế tiếp đang trong Mật mã chăng? hihihi
prancham
lau qua roi chua thay Mật mã Champa ket tiep xuat hien ta!
mydung
Hello,
Anh ơi! Mong anh đăng bài MMC phần kế tiếp đi anh! Đang hấp dẫn mà ngưng luôn, hihihi. Cảm ơn anh.
Like (6)
Loading...
6
6 users reacted this
mydung
doi phan ke tiep lau qua di hihihi
Ánh Văn Hán
hóng tiếp nào ))
prancham
vì tập kế tiếp đang trong Mật mã chăng? hihihi
prancham
lau qua roi chua thay Mật mã Champa ket tiep xuat hien ta!
mydung
Hello,Anh ơi! Mong anh đăng bài MMC phần kế tiếp đi anh! Đang hấp dẫn mà ngưng luôn, hihihi. Cảm ơn anh.