ranam
by On January 24, 2012
169 views

inrasara

Nguyên tác Akhar thrah – Chuyển tự La tinh 
Bản dịch Việt ngữ - Index

- Tổng luận- 3 Akayet Chăm
+ Akayet Dewa Mưno
+ Akayet  Inra Patra
+ Akayet  Um Mưrup

 
TỔNG QUAN AKAYET – SỬ THI CHĂM
   
1. Khái quát

Ngay từ thời tiền sử, Ấn Độ đã có những giao lưu quan trọng với Đông Nam Á. Từ nhu cầu phát triển kinh tế đến những bất an, xáo động của thời cuộc, từ cuộc thiên di khổng lồ vào thế kỉ thứ III, nhân cuộc chinh phục đổ máu đất Kalinga thời Açoka Nhà Maurya đến các thời kì chuyển di của các giáo phái Phật giáo sau khi bị đánh bật khỏi đất Ấn, phải tìm đường bành trướng ra phương Đông… Tất cả những sự kiện trên đan bện với nhau, kéo theo sau chúng dòng văn hóa Ấn và văn chương Phạn ngữ nhập địa Đông Nam Á.

Tuy nhiên, sự giao lưu không hẳn chỉ xảy ra một chiều từ Tây sang Đông. Dân Indonesia, thông thạo nghề biển, có thể đã đến Ấn Độ khá đông như người Ấn Độ đến Đông Nam Á. Và sau một thời gian dài trao đổi qua lại, Đông Nam Á trải qua một biến động lớn lao để rồi đầu thế kỉ thứ II sau Công nguyên, ảnh hưởng của Ấn Độ bắt đầu tràn lan ở Đông Nam Á.

Như thế, Vương quốc Champa, cư ngụ dọc miền duyên hải Biển Đông của Việt Nam ngày nay, cũng đã nhận được những ảnh hưởng quan trọng từ phía Ấn Độ. Nhà sử học Henri Maspéro xác định rằng, khoảng năm 380, Bhadravarman, vị vua Champa có tên khắc trên bia đá ở Quảng Nam, đã dựng đền thờ thần Shiva Bhadresvara ở Mĩ Sơn. Sự kiện chứng tỏ là Bà-la-môn giáo trước đó đã đâm rễ sâu vào mảnh đất này. Phật giáo Nguyên thủy chỉ đến vài thế kỉ sau nhưng rồi lại mất ảnh hưởng ít lâu sau đó trước sức ép quá lớn của giáo phái Brahma.

Dù là Phật giáo hay Bà-la-môn giáo, trong suốt quá trình sinh thành và phát triển của chúng, thứ ngôn ngữ chuyên chở giáo lí này – Sanskrit và Pâli – vẫn đã để lại một dấu ấn rất đậm nét trong ngôn ngữ của người bản địa.

Nhận xét sau đây của sử gia G.D.Hall cho chúng ta một am hiểu khái quát:
“Ấn giáo là tôn giáo của giai cấp quý tộc, nên không thu được lớp bình dân đại chúng. Tập quán bản xứ vẫn tiếp tục phát triển song song với tập quán Ấn. Mãi đến mấy thế kỉ sau, khi Phật giáo Nguyên thủy Theravada và Hồi giáo nhập địa và được truyền bá như một tôn giáo bình dân, những ảnh hưởng ngoại lai này mới thật sự va chạm với nếp sống người dân quê. Đến khi ấy, cả hai tôn giáo mới hòa mình vào nền văn hóa bản xứ rồi biến thể sâu đậm (…). Và khi mà thổ ngữ không đủ hiệu lực để diễn tả những í tưởng mới này, thuật ngữ Ấn có đường tiến thủ” [1].   

Trước tiên, ngôn ngữ và văn minh Ấn chỉ ảnh hưởng đến đời sống sinh hoạt ở thượng tầng cơ cấu của tổ chức xã hội mà Bà-la-môn giáo là đại diện độc quyền. Giới thượng lưu Chăm suy tư và viết bằng tiếng Phạn. Nên có thể nói bên cạnh các bi kí bằng chữ bản địa ít được lưu ý, gần như toàn bộ văn bia kí Chăm từ thế kỉ XVI trở về trước được viết bằng chữ Phạn, và ảnh hưởng bởi Phạn ngữ.

Nhưng sau khi đế quốc Ấn Độ (từ thế kỉ XI, và nhất là vào thế kỉ XV) kiệt quệ bởi sự đánh phá và chiếm đóng của quân đội Hồi giáo thì ảnh hưởng của văn hóa Ấn cũng suy dần ở khắp vùng Đông Nam Á. Vương quốc Champa, trong quãng thời gian đó, chỉ quan hệ giao lưu với các nước trong khu vực ở phía Nam mà các sự kiện lớn được ghi nhận là vào cuối thế kỉ XIII và đầu thế kỉ XIV, Jaya Simhavarman III (tức Chế Mân) cưới công chúa Nhà Trần là Huyền Trân và công chúa Java là Tapasi. Vào thời điểm này, vương quốc Champa cũng đã kết hợp với Đại Việt và Java tạo thành một liên minh quân sự chống đế quốc Mông – Nguyên. Việc Ppo Kabrah (1460-1494) cưới một công chúa Mã Lai, sứ mạng quân sự và tôn giáo của hai hoàng tử Mã Lai ở đất Champa vào cuối thế kỉ XVI, hay sự kiện Ppo Rome (1627-1651) sang Kelantan tìm hiểu giáo lí Hồi giáo Mã Lai và công dụng của nó… [2] nói lên mối quan hệ mật thiết của vương quốc Champa với các nước trong khu vực.

Đấy là những điều kiện thuận lợi cho hạt giống văn hóa tư tưởng Hồi giáo nẩy mầm và phát triển trong một đất nước đang suy yếu này. Để không lâu sau đó, khoảng cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII [3], văn hóa Hồi giáo đã giữ vai trò quan trọng trong Vương quốc Champa. Và vì Hồi giáo là tôn giáo mang tính đại chúng nên tư tưởng của nó đã có những ảnh hưởng sâu đậm đến nhiều tầng lớp của xã hội.

Có thể nói văn học Chăm, sau thời kì suy tàn của văn bia kí, ít nhiều cũng mang dấu ấn của tôn giáo Islam. 

Nguyễn Tấn Đắc nhận định đại ý là, cả vùng Đông Nam Á, bộ phận văn học bằng tiếng vay mượn chiếm ưu thế nhưng sau đó nhượng lại cho văn học bằng tiếng dân tộc [4]. Văn học Chăm cũng không đi ra ngoài thông lệ ấy. Cho nên, chỉ đến thế kỉ XVII, với sự xuất hiện của Sử thi Dewa Mưno và các thi phẩm tiếp theo sau đó, văn học dân tộc mới thật sự có cơ hội để nói lên tiếng nói của mình.

Mặc dù hai trong ba akayet nổi tiếng được vay mượn từ ngoài, vay mượn từ cốt truyện đến tên nhân vật, địa danh… nhưng với chữ viết (akhar thrah) và ngôn ngữ của mình, các thi sĩ Chăm đã kịp thời hoán cải chúng cho phù hợp với đặc trưng văn hóa dân tộc.

Do đó, xét về mặt hình thức, dù các akayet Chăm không có được cái tầm vóc đồ sộ của sử thi Ấn Độ hay các tác phẩm cùng thể loại của các nước trong khu vực, nhưng chúng luôn đạt tới một bố cục gẫy gọn và cô đúc. Điều cốt yếu là chúng đã nêu bật được hành động và tính cách anh hùng của nhân vật bằng các trận giao chiến với kẻ thù, các chiến công lẫy lừng, í chí vượt trở ngại để đi đến tiêu đích một cách anh dũng. Cả ba sử thi đều lược bỏ mọi sinh hoạt đời thường, các lễ nghi phong tục tập quán rườm rà và cả quang cảnh hùng vĩ cũng được tiết chế một cách đáng kể. Tất chi tiết đều nằm trong màn kịch và chỉ phục vụ cho tấn kịch.

Một khía cạnh khá độc đáo nổi bật lên ở các akayet này là, bên cạnh hai khuôn mặt đại diện cho sức mạnh của thế lực cũ là Dewa Mưno và Inra Patra, xuất hiện một khuôn mặt hoàn toàn mới: Um Mưrup. Có lẽ chính vì thế mà trong khi Dewa Mưno và Inra Patra, sau khi vượt qua mọi hiểm nguy, trở về quê hương trong khúc ca khải hoàn thì, Um Mưrup lại kiêu dũng gục chết nơi chiến trường. Nhưng cái chết của tráng sĩ này báo hiệu một lực lượng mới đang đi tới, rầm rộ và không gì cản nổi, hướng về vương quốc Champa. Để rồi sau đó, Champa, trước nguy cơ tan rã, đã phải mở vòng tay đón nhận một luồng ảnh hưởng mới khác từ bên ngoài: văn hóa Hồi giáo.
 
2. Sử thi Chăm
2.a. Dân tộc Chăm ở Việt Nam 

Hiện nay, người Chăm gồm hơn một triệu người sống rải rác trên khắp thế giới. Riêng ở Việt Nam, có số mới nhất được ghi nhận là: 130.000 người [5]. Họ sống thành cộng đồng phân bổ không đều ở mười tỉnh thành khác nhau. Trên bình diện văn hóa - địa lí, có thể phân chia làm ba nhóm như sau:
Ở hai tỉnh Bình Định và Phú Yên, người Chăm Hroi có khoảng 21.000 người. Người Chăm khu vực này vẫn còn lưu truyền phong tục tập quán bản địa có phần pha trộn với tập tục dân tộc Bana, cả ngôn ngữ hàng ngày họ cũng dùng pha lẫn tiếng Bana. Không còn lưu giữ chữ Chăm truyền thống akhar thrah như người Chăm ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, các trường ca và sử thi chỉ được kể truyền miệng như một thể loại văn học dân gian [6].

Ở khu vực phía Nam bao gồm các tỉnh An Giang, Tây Ninh, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Phước,… dân số Chăm có khoảng 24.000 người. Tại khu vực này, đại bộ phận người Chăm theo tôn giáo Islam (quen gọi là Hồi giáo mới), sinh hoạt phong tục tập quán hoàn toàn theo Hồi giáo. Bà con cũng biết đến chữ Chăm truyền thống và văn bản cổ của tổ tiên, nhưng các tác phẩm nổi tiếng như Kabbon Muk Thruh Palei chỉ còn được kể như là truyện cổ; chỉ có rất ít người thuộc thế hệ cũ còn thuộc và đọc cho con cháu nghe. 

Khu vực tập trung người Chăm đông hơn cả là ở hai tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, gồm khoảng 87.000 người. Đại đa số người Chăm cư trú tại khu vực này theo đạo Bà-la-môn (gọi là Cam Ahier) và Hồi giáo cũ (Hồi giáo bản địa hóa gọi là Cam Awal), một số ít còn lại theo đạo Islam. Có thể nói, đây là khu vực văn hóa - địa lí cộng đồng Chăm còn lưu giữ được nhiều nét phong tục tập quán và văn hóa cổ xưa hơn cả. Trong đó nổi bật là chữ Chăm truyền thống akhar thrah và akayet (sử thi). Ba mươi năm qua, chữ truyền thống vẫn còn được dạy trong các trường Tiểu học (song ngữ) có con em dân tộc Chăm học. Sử thi được lưu truyền qua akhar thrah được các gia đình Chăm cất giữ trong ciet sách rất trang trọng. Và được họ xem như những báu vật linh thiêng. 
Chính từ các ciet sách này, các văn bản sử thi Chăm được sưu tầm, và ấn hành trong giai đoạn qua [7].

2. b. Quá trình sưu tầm, nghiên cứu sử thi Chăm:

Sưu tầm, biên dịch và xuất bản:

4 sử thi Akayet Deva Mưno, Akayet Inra Patra, Akayet Um Mưrup và Akayet Pram Dit Pram Lak dù rất nổi tiếng trong cộng đồng Chăm, nhưng chúng chỉ tồn tại dưới dạng văn bản chép tay hoặc truyền khẩu bằng kể (akhan), ngâm (hari) hay đọc (pwơc). Tên sử thi Akayet Deva Mưno và Akayet Inra Patra lần đầu tiên được nhắc đến vào năm 1931 bởi nhà nghiên cứu người Pháp: Paul Mus [8].   

Năm 1970, bằng tên gọi Rwơh Dwah (sưu tầm) - Khảo lục nguyên cảo Chàm, bản in sử thi Akayet Inra Patra mới xuất hiện lần đầu do Trung tâm văn hóa Chàm - Phan Rang ấn hành, với sự chủ trì của G. Moussay cùng nhóm trí thức Chăm cộng tác gồm Nại Thành Bô, Đàng Năng Phương, Lưu Ngọc Hiến, Thiên Sanh Cảnh, Lâm Gia Tịnh và Trượng Tốn. Năm 1971, sử thi Akayet Deva Mưno cũng được in và phát hành dưới dạng này, để 3 năm sau đó, 1974, tác phẩm được “tái bản” với chữ viết chân phương và ít sai sót hơn [9]. 

Giai đoạn này, song hành với hoạt động sưu tầm của Trung tâm văn hóa Chàm, Thiên Sanh Cảnh qua vai trò chủ bút tập san Panrang – Tiếng nói của cộng đồng sắc tộc Ninh Thuận, đã cho ra mắt các văn bản cổ Chăm, trong đó có  Akayet Deva Mưno. Nhưng ngoài việc đưa ra văn bản Chăm như chủ trương của G. Moussay, Thiên Sanh Cảnh còn chuyển dịch sử thi ra tiếng Việt, bên cạnh chú thích từ vựng, tạo tiền đề quan trọng cho các nhà nghiên cứu sau này [10].  

Ở tất cả các ấn phẩm trên, văn bản chữ Chăm akhar thrah chỉ có mặt dưới dạng viết tay. 

Năm sau, 1976, Nara Vija có một luận văn về Akayet Inra Patra với văn bản sử thi được chuyển dịch ra tiếng Pháp [11].

Năm 1982, Tùng Lâm và Quảng Đại Cường đưa ra hai bản tiếng Việt của sử thi Chăm Akayet Deva Mưno và Akayet Um Mưrup với tên gọi Hòa Nô và Hoàng Tử Um Mưrup và cô gái chăn dê trong cuốn Truyện thơ Chàm [12]. Đáng tiếc là bản dịch không có phần đối chiếu với nguyên tác, và người dịch không cho biết đã dựa vào bản chép tay nào. Có lẽ như thế chăng mà bản dịch có sự sai lệch quá lớn so với các bản văn của thi phẩm Chăm được tìm thấy. Mười năm sau, “bản dịch” trên được Đặng Nghiêm Vạn cho in lại trong một tuyển tập về văn học dân tộc thiểu số [13]. 

Năm 1989, một công trình nghiên cứu về akayet viết bằng hai thứ tiếng Pháp và Mã Lai được in ở Kuala Lumpur [14]. Tác phẩm gồm năm phần chính. Riêng phần chuyển tự Latinh văn bản Chăm, có lẽ vì đọc không kỹ tác phẩm Chăm bằng akhar thrah, nên người làm công tác sao chép đã phạm nhiều lỗi về từ vựng - ngữ nghĩa.

Về hai “sử thi” bằng tiếng Việt của Tùng Lâm - Quảng Đại Cường và P. Dharma, G. Moussay và Inrasara đều có bài viết trao đổi nghiêm xác [15]. Tiếp nhận sự phê bình của Inrasara, P. Dharma đã sửa chữa và in lại Akayet Dewa Mưno do Cơ quan sưu tập thủ bản Champa Koleksi Manuscrip Melayu Campa thực hiện, rất đáng tin cậy. Một ấn phẩm khác về Akayet Inra Patra cũng được xuất bản bởi Cơ quan trên vào năm 1997. Từ đây các văn bản akhar thrah đầu tiên xuất hiện dưới dạng chữ Chăm trên vi tính [16]. Trước đó hai năm, Inrasara cũng đã cho in hai sử thi Akayet Dewa Mưno và Akayet Um Mưrup trong bộ ba Văn học Chăm, Khái luận - văn tuyển, gồm văn bản tiếng Chăm, bản Việt ngữ, thích nghĩa từ cổ và bước đầu đối chiếu dị bản [17]. Như vậy sau “truyện thơ” Hoàng Tử Um Mưrup và cô gái chăn dê được cho ra mắt vào năm 1982, đây là lần đầu tiên Akayet Um Mưrup được trình bày một cách nguyên vẹn.

Nghiên cứu

Việc nghiên cứu sử thi Chăm được tiến hành với nhiều khó khăn, bất trắc và không liên tục. 
Ban đầu, sự sai lầm về việc trình bày văn bản đã dẫn đến sai lạc trong cộng việc nghiên cứu. Đình Hy và Trương Sĩ Hùng đã phạm phải lỗi này khi viết bài nghiên cứu về sử thi Chăm mà chỉ dựa trên văn bản chưa được kiểm chứng [18]. Trong khi trước đó, đã có nhiều công trình giá trị ra đời.

Công trình nghiên cứu đầu tiên về sử thi Chăm - Akayet Dewa Mưno - thuộc về G. Moussay qua luận án EPHE của ông được bảo vệ vào năm 1975 [19]; một năm sau đó ông có bài nghiên cứu về Pram Dit Pram Lak [20]. Để mãi 15 năm sau ông mới có bài viết chuyên sâu khác về Akayet Inra Patra [21]. Ở trong nước, năm 1994, Inrasara trong tập thứ nhất của bộ ba Văn học Chăm, Khái luận - văn tuyển đã dành nguyên một chương bàn về sử thi Chăm [22]. Sau đó rải rác có các bài viết của Inrasara, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Phạm Hùng về thể loại văn học này của Chăm, vừa chuyên sâu thể loại vừa đặt akayet trong tổng thể văn học Chăm và có khi cả nền văn học cổ Việt Nam [23]. 

Sử thi Chăm với 4 tác phẩm Akayet Deva Mưno, Akayet Inra Patra, Akayet Um Mưrup và Akayet Pram Dit Pram Lak cũng được đề cập nhiều lần với nhiều dạng thức và mức độ khác nhau qua tác phẩm tiểu luận - nghiên cứu - phê bình dày dặn của Inrasara: Văn hóa - xã hội Chăm, nghiên cứu & đối thoại [24].

2. c. AKAYET CHĂM
2. c.1. AKAYET DEWA MƯNO


Trong các sử thi Chăm (Akayet Dewa Mưno, Akayet Inra Patra, Akayet Um Mưrup), Akayet Dewa Mưno (Sử thi Dewa Mưno) chiếm vị trí quan trọng nhất. Quan trọng không những ở quy mô và độ dài của nó mà còn ở chỗ nó là một tác phẩm bằng thơ có lẽ cổ nhất, có giá trị văn chương cao, đồng thời có tính nhân bản sâu sắc.

Akayet Dewa Mưno được truyền bá rộng rãi trong quần chúng. Người Chăm hãnh diện vì nó, xem nó như là Truyện Kiều của dân tộc Chăm. Và cũng như người KInh với Truyện Kiều, người Chăm say Dewa Mưno, nói Dewa Mưno, đọc Dewa Mưno, phân tích Dewa Mưno và ngâm Dewa Mưno với một giọng ngâm đặc chất Dewa Mưno. Đây không phải là sáng tác của người trần mắt thịt mà là một tặng phẩm của thần thánh ban cho, ông bà Chăm nghĩ thế.

Akayet Dewa Mưno [25] gồm 471 câu lục bát [cặp 6/ 8] cổ điển Chăm. Cũng như các tác phẩm khác trong nền văn học cổ điển Chăm, Dewa Mưno không có tác giả. Người ta cũng không xác định được năm sáng tác và ngay cả thế kỉ ra đời của nó. Căn cứ vào tính chất cổ của đa số ngôn từ được sử dụng trong tác phẩm (xem bảng kê):

Bảng kê một số từ cổ được dùng trong Dewa Mưno:

take: khởi hành, đi              Pơp: gặp
binix: chết, hi sinh       praittarabi: mặt đất
bican: nói, nhận định   sunit ginrơh: thần thông
nưmơx sukal: lạy tạ   ditbiya: vương quốc, hoàng tộc
kuramư: cây chà là   đwan laik: cam đoan
norapat: vua                bharriya: vợ, chồng
rabiyơng: nữ tì                kapaklima: tể tướng
mưligai: ngai                kupiah: mũ (của người Hồi giáo)
nix pabha: chết                kathieng: thiên thạch; tuyết.
tathik kuradong: biển khơi   jallidi: đại dương


Bên cạnh sự có mặt của một số yếu tố Mã Lai trong akayet, chúng ta có thể nói rằng Akayet Dewa Mưno đã du nhập vào Champa qua con đường Islam vào khoảng cuối thế kỉ XVI đầu thế kỉ XVII [26].

Trong bài khảo luận của mình, G. Moussay xác nhận rằng Akayet Dewa Mưno của Chăm được vay mượn từ Hikayat Dewa Mandu của Mã lai. Ông cũng sơ bộ đối chiếu tên địa danh và tên nhân vật giữa hai tác phẩm này:

Mã Lai                        Chăm

Dewa Mandu           Deva Mano
Anggeran Dewa           Akar Dewa
Dewa Arkas Peri             Arakas Kaphwari
Langka dura           Birung Langdara
Berhamana           Brah manna
Cendera                 Candra
Dewa Raksa Malik           Deva Samalaik
Gangsa Indera           Gan Sri Inra
Naga Samandam           Ina Madong
Karama Raja           Kurama Raja
Lang Kawi Rama           Langgiri Cahya
Palinggem Cahya           Palingan Cahya
Lila Ratna Cahya           Ratna Cahya Sri Biyang
Zenggi                        Sanggi
Duri Patem Dewi           Sapatan Divi
Saribu Cahya           Sri Ramut Cahya [27]

Nhưng khi vay mượn tác phẩm Mã Lai, Akayet Dewa Mưno đã có nhiều thay đổi quan trọng về những tình tiết của cốt truyện lẫn tâm lí nhân vật. 
Chúng ta hãy theo dõi câu chuyện:

Vua Kurama Raja xứ Gan Xrik Inra vĩ đại được vua các nước chư hầu xung quanh thần phục, hằng năm mang lễ vật đến triều cống. Vương quốc hùng mạnh, nhân dân yên ổn làm ăn. Bỗng dưng, một ngày kia, con voi quý trong vườn nhà vua khóc rống thảm thiết. Một điềm gở được báo trước. Vua cho vời ngay quan đại thần và nhà chiêm tinh Lakxamana đến hỏi sự tình. Nguyên nhân được tỏ bày: nhà vua không có con trai nối ngôi cha trị vì đất nước. Nhà chiêm tinh nói thêm: vua cha có thể cải mệnh bằng cách tự hi sinh thân mình. Y lời vị chiêm tinh, nhà vua ban ân phước cho thần dân, rồi sau khi trăng trối với hoàng hậu Runna Runga Cahya, vua hóa thân về trời để tròn một năm sau hoàng hậu hạ sinh một đứa con trai kháu khỉnh: hoàng tử Dewa Mưno. 

Dewa Mưno kết nghĩa anh em với Ưngkar Dewa là con trai của quan đại thần Binara. Khi hai anh em trưởng thành, họ đều không thấy cha đâu, hỏi ra mới biết cớ sự. Và họ quyết đi tìm cha, bất kể bao lời can ngăn, mong được nhìn thấy mặt cha một lần thôi để thỏa lòng khao khát.

Cùng thời, bên xứ Birung Lơngdara có một nàng công chúa nết na thùy mị với sắc đẹp chim sa cá lặn tên là Ratna Xribiyơng được Rija Dewa Xamưlaik – một hoàng tử tài ba có đủ phép thần thông mới nối ngôi vua cha vừa băng hà ở xứ bên cạnh – để ý và xin đến làm rể, nhưng công chúa Ratna không thuận. Cùng lúc, vua Intan ở xứ Sumut Didin Didan vượt đại dương mang vàng bạc châu báu đến hỏi cưới công chúa. Hai bên ưng thuận trao đổi lễ vật. Dewa Xamưlaik cảm thấy bị sỉ nhục, ngay tức khắc hóa phép biến công chúa Ratna thành con voi trắng, gầm lên một tiếng thất thanh rồi chạy biến vào rừng. Vua Intan, tận mắt nhìn thấy phép thần thông của Dewa Xamưlaik, sợ nguy đến tính mạng, tập hợp đoàn tùy tùng, vội vã lên tàu về nước.

Trong khi đó, trên cuộc hành trình đi tìm cha, tình cờ hai anh em Dewa Mưno gặp con voi trắng đang đứng rủ buồn dưới gốc cây lớn. Chàng đến bên hỏi và nàng kể lể sự tình. Động lòng trước cảnh trái ngang, Dewa Mưno hóa phép biến con voi trắng thành nàng công chúa, xinh đẹp lại càng xinh đẹp hơn xưa. Nhưng đây là Vương quốc của Dewa Xamưlaik. Rak đang bay đến hái trái kuramư cho chúa mình. Nhìn thấy Mưno, Rak lên tiếng khiêu khích. Nhớ đến tâm địa nhỏ nhen của Xamưlaik đối với công chúa Ratna khi xưa, và khi nghe mấy lời khiêu khích của Rak, Dewa Mưno nổi giận chém Rak trọng thương rồi dùng mũi tên thần bắn Rak bay đi với lời nhắn gởi đến Xamưlaik: công chúa Ratna đã là vợ của Dewa Mưno.

Rak bay đi rớt ngay trước mặt Xamưlaik, trăng trối rồi chết. Xamưlaik đùng đùng nổi giận. Thế là các cuộc chiến bắt đầu nối đuôi nhau tiếp diễn. Ngay trong cuộc giao chiến đầu tiên, Dewa Mưno giết chết vua Rak rồi đường hoàng đưa công chúa Ratna trở về quê hương nàng. Ở đây, hôn nhân giữa Dewa Mưno và công chúa Ratna được chính thức công nhận. Bên cạnh đó, để thưởng công chàng, vua Lang Dara còn gả cháu gái của mình là Cahya cho Dewa Mưno.

Về phần Xamưlaik, uất ức vì bị mất mặt trước Dewa Mưno, chàng cùng chú là Arakix Kaphwari bỏ xứ sở lên núi tu luyện trong bảy năm. Hai chú cháu cùng đến gặp các tù trưởng thổ dân yêu cầu giúp sức. Nhưng cả các tù trưởng này cũng bị Ưngkar Dewa đánh bại trong một cuộc giao tranh. Trên đường kéo quân trở về, anh em Dewa Mưno bị Xamưlaik bắn lén. Mũi tên vàng của Xamưlaik mang hai anh em bay rớt vào giữa lòng đại dương, lưu lạc bảy ngày đêm mới gặp lại mặt nhau trong một dòng nước xoáy. Nhớ lại bùa thiêng của Xơnggi khi xưa, Ưngkar Dewa nhắc tên và Jin Xơnggi –  người xưa kia được Ưngkar Dewa cứu sống – xuất hiện vớt hai anh em Dewa Mưno chở về xứ sở của một vị vua. Ở xứ này, Ưngkar Dewa lấy công chúa Twơn Ramai và Dewa Mưno lấy công chúa Lima Girakxa.

Sau một năm chung sống với công chúa Lima và có được một cậu con trai, Dewa Mưno được tin báo Xamưlaik đang bao vây xứ Lơngdara và đòi lấy cho bằng được công chúa Ratna mặc dù nàng cương quyết từ chối. Chàng cùng em tức tốc lên đường. Tưởng rằng cuộc chiến mới sẽ xảy ra ác liệt hơn. Nhưng không, một cạm bẫy khác đã được giăng ra, và hai anh em Dewa Mưno thật thà đã bị trúng thuốc độc. Xamưlaik sai các binh lính hầu cận mang gươm tới, quyết băm nát xác hai anh em Dewa Mưno. Thế nhưng những nhát gươm bổ xuống đã không làm hề hấn gì hai thi thể đã bất động này. Tin xác hai anh em Dewa Mưno đang được quân Rak canh giữ cẩn mật đồn lan sang xứ sở bên cạnh, công chúa Jotna xứ Hàm Rồng cho người tìm cách mang xác họ về, làm phép giải độc cho Dewa Mưno đồng thời yểm bùa cho chàng quên quê hương cùng vợ con để chung sống với mình. May mắn cho Dewa Mưno, Ưngkar Dewa khi tỉnh ngộ đã gọi Jin Xơnggi tới cứu cả ba người thoát khỏi xứ Hàm Rồng bí hiểm kia.

Trong khi đó, ở vương quốc Ilơng Xơngkata, Xamưlaik sau một tháng ròng chờ đợi (thời gian mà Xapatan – em gái út chàng, lúc này cũng là vợ của Dewa Mưno – đề nghị với anh cho các công chúa được để tang chồng), đã vội vã lên đường mong được hội ngộ với công chúa Ratna. Không ngờ, khi tới nơi, nhìn thấy Dewa Mưno đường hoàng ngự trên ngai vàng, chàng vô cùng giận dữ. Cuộc chiến tái diễn, khốc liệt hơn bao giờ, vì hai bên đưa ra toàn bộ lực lượng quyết một trận sống mái. Quân Rak và Jio Wanna bị Jin Xơnggi đánh bại và Arakix cũng bị Ưngkar Dewa hạ một cách nhanh chóng. Xamưlaik dàn quân và Dewa Mưno đi ứng chiến, bay đi cùng với sáu nàng công chúa một lòng cùng sống chết với chồng, quyết không để bị Xamưlaik bắt nữa. Hai bên chiến đấu liên tục trong nhiều ngày đêm, đi qua nhiều hành tinh xa lạ, đánh nhau giữa không trung, trong biển cả, trên đất liền không ngừng nghỉ. Đến thời điểm quyết định, Xamưlaik bắn mũi tên vàng của chàng. Mũi tên bị Dewa Mưno bẻ gẫy. Ngay lập tức Dewa Mưno phản công, sử dụng đến ngón tuyệt chiêu: gươm kuraba kết liễu mạng sống của Xamưlaik.

Cuộc chiến dưới trần gian vang động đến Nhà Trời. Thương tình cho anh chàng Xamưlaik si tình tội nghiệp, đồng thời để cứu vãn danh dự cho chàng, Đấng Thượng đế chí tôn phái thiên sứ xuống mở nấm mộ và ban hồn cho chàng sống dậy. Hai bên lại tiếp tục chiến đấu. Khi cuộc chiến kéo dài quá lâu vẫn bất phân thắng bại, lúc đó, Ngài mới giáng thế giải hòa cho hai người khổng lồ ngang sức ngang tài, chính thức tuyên bố công chúa Ratna là vợ của Dewa Mưno và cho Xamưlaik cưới bóng của nàng (ôi! Cái khôn khéo của Đấng Chí tôn Chí đại) Dewa Mưno, Ưngkar Dewa, Jin Xơnggi và sáu công chúa khải hoàn, trở về quê hương trong sự đón tiếp tưng bừng của thần dân cùng vua các nước chư hầu. Dewa Mưno được tôn ngôi vương, Ưngkar Dewa làm quan đại thần. Xơnggi từ giã mọi người trở về cố quân.

Bố cục chặt chẽ, cốt truyện đầy kịch tính cộng với lối kể truyện lôi cuốn đã tạo cho Akayet Dewa Mưno một sức hấp dẫn đặc biệt. Mặc dù thi phẩm đã phải khoác lên mình chiếc áo huyền thoại, như các loại vũ khí được sử dụng trong cuộc chiến (trơmpaik: một loại dĩa bay, irơx kuraxi: một thứ ghế bay thần kì, padak lakkuraba: một loại gươm thần) hay tên trái cây, tên xứ sở, tên nhân vật đều là những tên xa lạ với ngôn ngữ dân gian, nhưng chính là biểu hiện tâm lí người, rất người của nhân vật đã để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người đọc. Sự căm giận của Jin Xơnggi, cái hèn nhát của vua Intan, tính thấp hèn của Xamưlaik, lòng ghen tuông, những niềm vui, nỗi buồn, những nụ cười và những giọt nước mắt… đều nằm trong sơ đồ chung của tâm lí con người phàm trần.
Độc giả không thể nào quên được cơn giận dữ của Jin Xơnggi khi nhìn thấy nước mắt lăn dài trên má Dewa Mưno lúc chàng trở về sau cơn hoạn nạn, chợt bắt gặp công chúa Cahya tay đang nắm chặt con dao toan tự vẫn vì nghĩ đây là Xamưlaik đến hãm hại nàng. Cơn giận dữ của Jin rất ư con người: hắn nhìn thấy tận mắt thần tượng hắn vừa sụp đổ với những giọt nước mắt yếu đuối! Và càng con người hơn nữa: những giọt lệ này của Dewa Mưno thần thánh. Chiều sâu tâm lí của con người được khai phá một cách kì tuyệt!
Dòng thơ của bản sử thi như muốn bay cao bay xa nhưng bao giờ cũng rơi trở lại mặt đất. Mặt đất luôn là tâm điểm cho các nhân vật xử sự và tung hoành.

Thật thế, Dewa Mưno là một thi phẩm mang đậm tình người. Đó là tình phụ tử của vua Karama Raja đã chịu chết đi cho con được có mặt trên trần gian; là lòng chí hiếu của Dewa Mưno đã không quản hiểm nguy gian khổ, lên đường đi tìm cha, bỏ lại sau lưng ngai vàng cùng sự giàu sang phú quý; đó là lòng trung thành của Jin Xơnggi, đã bao lần ra tay cứu anh em Dewa Mưno thoát khỏi cảnh nguy khốn; là đức chung thủy của công chúa Xapatan một mực yêu thương chồng dù bị chồng hiểu lầm và ruồng bỏ, của công chúa Ratna đã đánh lừa Xamưlaik để được thủ tiết với chồng khi chồng bị nạn, và trong trận quyết đấu đã sát cánh bên chồng để được cùng sống chết. Và nhất là tình máu mủ của công chúa Xapatan đối với người anh là Xamưlaik. Khi người anh ruột bị sát hại bởi chính bàn tay chồng mình trong trận chiến cuối cùng, nàng đã khóc. Nhà thơ viết nên một đoạn thơ rất đẹp:

Dom nan Xapatan Diwi
Cauk xơp nhu hari grơp nưgar jang paxơng
Ia di kraung đwơc mưng ngauk mai tơl
Camauh patri cauk nan ia dawing đwơc o truh
Thế rồi công chúa Xapatan khóc
Tiếng khóc thảm thiết, cả xứ sở động lòng
Và dòng sông
Từ trên cao chảy lại
Nước cuộn xoáy mãi không nỡ trôi đi

Akayet Dewa Mưno còn là bài thơ ngợi ca lòng cao thượng hào hiệp của con người. Dewa Mưno rất cao thượng, cao thượng khi chàng từ chối đánh Xamưlaik để rồi phải mắc nạn bị kẻ thù bắn lén sau lưng, cao thượng khi chàng cho phép vợ khóc cho người anh ruột của nàng vừa là kẻ tử thù của mình, khi chàng không cho người em kết nghĩa Ưngkar Dewa giết quân lính kẻ địch trong khi chiến đấu chống Xamưlaik. Và ngay cả Xamưlaik, một nhân vật phản diện, cũng đã làm được một cử chỉ cao thượng: chàng đã không đụng chạm đến công chúa Ratna khi được nàng yêu cầu để tang cho chồng (vì tưởng chồng đã chết). Cả đến Đấng Thượng Đế Chí Tôn cũng đã thể hiện được một cử chỉ nhân từ cao cả: không để cho Xamưlaik, một con người có tài năng lớn phải chịu mất mặt trước người yêu, khuất nhục trước kẻ thù; vì khi bị đẩy đến bước đường cùng, con người dễ đi đến những hành động thiếu chín chắn, mối thù kéo dài dây dưa, và con dân Ngài dưới trần mãi chịu cực khổ; nên Ngài đã nghĩ ra hướng để gỡ danh dự cho Xamưlaik bằng cách cho chàng một lần nữa được chiến đấu với Dewa Mưno, và cuối cùng được cưới bóng công chúa Ratna. Thật không thể tìm được giải pháp nào tài tình hơn!

Và cuối cùng, Akayet Dewa Mưno vĩ đại ở nơi nó đã thỏa mãn được những khát khao muôn thuở của con người. Con người bao giờ vẫn thế, dù họ cư ngụ trong bất kì không gian thời gian nào, nhu cầu được truyền giống (Vua Kurama Raja phải tự hi sinh để có được đứa con nối dõi), nhu cầu được yêu thương đùm bọc (Xapatan cần được bàn tay Dewa Mưno ôm ấp), được sống ấm no trong một đất nước an lành (tất cả quần chúng nhân dân trong mọi xứ sở) vẫn là những nhu cầu bức thiết nhất.

Ở Akayet Dewa Mưno, con người đã biết quên đi bản thân mình và biết hi sinh cho người khác, cha hi sinh cho con, em biết quên mình vì anh, bạn bè dám lăn xả vào khói lửa để cứu nhau, chồng biết tha thứ cho vợ… những đức tính này của con người khi kết hợp lại, có thể tạo nên những kì tích mà nếu thiếu những kì tích này thì cuộc sống sẽ trở nên vô vị và con người muôn đời mãi không thể đạt tới nhân bản tính đích thực.

Thế nhưng, các đức tính cao cả này của nhân vật sẽ nhạt nhẽo biết bao nếu nó không đặt trong cảnh ngộ, tình huống tương ứng, và nếu nó không được kể lại bằng một nghệ thuật thơ chín chắn như ở Akayet Dewa Mưno. Quả thật, lối kể chuyện của Akayet Dewa Mưno đã đạt đến mức tinh xảo.

Không giống như các tác phẩm khác thuộc dòng văn học cổ điển Chăm, rất ít chi tiết được lặp lại trong Akayet Dewa Mưno. Tất cả đều được phóng đại, và phóng đại đến mức dị thường, cái dị thường này lại luôn luôn có thể chấp nhận được. Có thể nói, chính cái dị thường này đã góp phần tạo nên sức hấp dẫn riêng của tác phẩm. Chúng ta cũng cần lướt qua một số đoạn:

– Dewa Mưno đang chuẩn bị xuất quân:
Tanrak ginuh glaung mưtưh adơrha
Apan padak lakkuraba đik asaih kauk pơr
Hào quang rực sáng lưng chừng trời
Tay cầm gươm thần, cưỡi ngựa trắng bay   

– Cơn giận dữ của Xamưlaik:
Nhu ginaung tatrơm takai dơng mưkaik
Dom kathieng jruh laik, cơk car jang jalơh
Nổi cơn thịnh nộ, hắn giậm chân
Thiên thạch rụng rơi, núi non nghiêng đổ

– Diễn tả cảnh cung điện của công chúa Ratna thì: 
"Để xây cung điện cho công chúa Ratna, nhà vua cho vời những thợ luyện kim bậc thầy. Ba lớp hàng rào bao bọc lấy cung điện bao la: vòng ngoài cũng được rào bằng sắt, vòng giữa bằng đồng và vòng trong được sơn son thếp bạc. Cổng thành được ngăn bằng ba lớp cửa có khắc hình các con rồng bay lượn. Bốn góc khuôn viên cung điện đều có bốn cái giếng xây khổng lồ mà mặt sân toàn cát vàng. Hai bên đường từ cổng dẫn vào cung điện chính trồng đủ loại hoa quý được mang về từ khắp nơi trên thế giới mà hương thơm tỏa bay khắp mọi miền đất nước. Dưới mỗi cây hoa đều có một loại chim quý hiếm suốt ngày đêm múa hát. Trong thành, một ngọn núi cao ngất được dựng nên. Ngọn núi này chỉ được trồng độc nhất cây chà là thần trĩu nặng trái chà là vàng, và trong thân cây luôn âm vang ngàn điệu nhạc mê li. Xung quanh ngọn núi là một vùng biển cả vỗ sóng êm ngân hòa cùng điệu nhạc trong thân cây chà là. Một chiếc cầu bằng vàng ròng được lọc từ đại dương bắc qua biển nối liền ngọn núi với biệt thự. Biệt thự vĩ đại cao lưng chừng trời được lợp bằng những tấm kim cương, trên cùng là mái làm toàn bằng vàng ròng. Ở bốn góc của biệt thự, bốn con rồng thần nâng bốn bóng đèn khổng lồ ngày đêm soi sáng toàn vương quốc".

Đấy là một cảnh tượng siêu nhiên chỉ được thấy trong óc tưởng tượng hay trong những trụ xứ của các vị bồ tát trong kinh Hoa nghiêm của Đạo Phật. Và đây là bãi chiến trường trong trận giao tranh cuối cùng giữa Dewa Mưno và Dewa Xamưlaik:

"Trên mặt đất, những ngọn lao của họ chạm nhau nổ bùng những đám lửa thiêng cháy trụi núi non. Họ lại kéo nhau ra đại dương, hóa thân thành loài rồng biển, tiếp tục chiến đấu trong bảy ngày đêm làm đại dương nổi sóng, bão tố mù trời đất. Thấy chẳng ăn thua gì, họ lại lặn sâu vào lòng đất (lúc này họ đã hóa thân thành rồng đất) tiếp tục thí võ. Cuộc chiến lại diễn ra trên không trung làm sấm sét nổ tung, chấn động một nửa vũ trụ".

Cứ thế tiếp tục. Cứ thế, Dewa Mưno và Xamưlaik tung hoành, tung hoành cùng với óc tưởng tưởng bay bổng của thi sĩ, cùng với vần thơ hoa mĩ và ngôn từ bay bướm kì tuyệt.

Thế nhưng, tài năng của thi sĩ không chỉ ngừng lại ở tưởng tượng và phóng đại. Người ta nghĩ rằng có gì khó đâu! Cứ tưởng tượng những điều kì quặc nhất rồi thổi phồng nó lên. Làm như ai cũng có thể làm được chuyện ấy! Picasso, khi để cây cọ của mình tung hoành với những tác phẩm hiện đại, trước đó ông đã có các họa phẩm cổ điển giá trị. Và thi sĩ Tô Thùy Yên có nói đại í rằng không thể đem Tháp Chàm với Angkor của Campuchia ra mà so sánh. Bởi vì nếu cần, nhà thơ chúng ta cũng có thể diễn tả tài tình những khía cạnh vi tế nhất của tâm lí con người.

Chúng ta hãy thử phân tích một tình tiết trong akayet: Dewa Mưno vội vã về quê hương sau khi được công chúa Jotna giải độc và được Jin Xơnggi cứu thoát. Lúc ấy, Ratna và Cahya bị giam lỏng, đang thủ sẵn con dao để kịp tự vẫn khi qua thời hạn được Xamưlaik cho phép để tang chồng. Lòng thấp thỏm, chàng nhẹ nhàng đẩy cửa bước vào.

Patri tangi thei jwak drơh takai
Pathang kuw bhian nau mai, Dewa Mưno nan nhu hia
Nàng hỏi ai đi tựa tiếng bước chân
Chồng ta đi lại những ngày thường
Và Dewa Mưno bật khóc.

Dewa Mưno, người anh hùng cái thế này đã bật khóc. Chàng khóc vì chàng hiểu rằng chỉ có những người thật sự yêu nhau, thực lòng nhớ mong nhau mới có được cái tinh tế ấy của thính giác. Các chi tiết vặt vãnh nhất và tưởng như dễ bị khuất lấp bởi bao lo âu thường nhật, nhưng với nỗi nhớ mong, bằng sự chờ đợi trong câm lặng và qua một thời gian dài hồi tưởng, chúng từ từ lớn dậy và lớn mãi trong kí ức sâu thẳm mà ta hầu như không hay biết cho đến khi, bởi một cơ duyên nào đó, nó vỡ ra và lộ nguyên hình. Các nhà tâm lí học đặt cho nó cái tên: vô thức. Như tiếng giũ áo sau khi có tiếng mở tủ, thói quen chà hai chân vào nhau khi lên giường, hay như ở đây – tiếng bước chân đi lại.

Trở lại với câu chuyện. Lúc ấy, Dewa Mưno nhanh tay giật lấy con dao nơi tay công chúa, bỗng bị nàng kháng cự lại. Vô thức nàng tin rằng đó là tiếng bước chân của chàng - là chàng, người chồng yêu dấu của mình nhưng í thức nàng liền phản bác: chàng đã chết.
Trong một cảnh ngộ rất thực, với một nghệ thuật phân tích tâm lí sâu sắc, thi sĩ đã thổi được vào đoạn thơ sức sống kì lạ. Đấy là điểm son khác của Akayet Dewa Mưno.

Và một điều nữa cần nói ở đây là kết thúc có hậu của tác phẩm (chính nghĩa thắng hung tàn, Dewa Mưno ca khúc khải hoàn, trở về quê hương đoàn tụ với gia đình) đã làm cho độc giả hoàn toàn mãn nguyện khi đặt cuốn sách xuống.

Ít ra, trong “một vài trống canh”, Akayet Dewa Mưno cũng đã một lần đưa bao thế hệ con người chất phác, thoát được những cơ cực của đời thường, những bất công của chế độ phong kiến, được thả hồn bay theo vần thơ để cùng với Dewa Mưno đi qua mấy tầng trời bao la, viếng thăm các cung điện nguy nga tráng lệ, chiêm ngưỡng dung nhan các nàng công chúa xinh đẹp tuyệt trần; cùng bay theo Dewa Mưno trong cuộc trường chinh chống lại cái xấu ác, chiến thắng cái xấu ác để an toàn cùng hoàng tử trở về quê hương - nơi mà ngọn lúa tự do trổ bông, cây rừng tự do lớn dậy, dân làng an tâm làm ăn sinh sống (grơp baul thuk hatai).

(grơp baul thuk hatai).
______________________________

(5) Chi tiết này dễ khiến chúng ta liên tưởng đến tiếng bước chân trong một đoạn thơ của Paul Valéry cũng vang lên cùng âm hưởng:
      Tes pas, enfants de mon silence
      Saintement, lentement placés
      Vers le lit de ma vigilance
      Procedent muets et glacés  

Be the first person to like this.