mydung
by On January 31, 2020
31 views



Nik Mansour Nik Halim

Vào khoảng cuối những năm 80, khi mà Việt Nam đang mở cửa nền kinh tế, việc giao thương qua lại trở nên phổ biến và dễ dàng. Thời này ở làng Chăm Châu Giang có rất nhiều người đã nắm lấy thời cơ rời làng đi buôn. Họ buôn rất nhiều mặc hàng, có khi là thổ cẩm, vải vóc Thái Lan, nông sản…

Người Chăm tuy thuộc nhóm dân tộc thiểu số nhưng lại là người miền xuôi, tức chỉ sống ở các vùng đồng bằng và thành thị nên rất rành về buôn bán. Thuở đó trên vùng Tây Nguyên, phần lớn đồng bào nơi đó rất hiếm khi tiếp xúc với thế giới bên ngoài nên các mặc hàng từ miền xuôi được ví như là phẩm vật quý hiếm đối với họ. Trong các buôn làng Tây Nguyên, người Kinh ít khi được tiếp cận do một phần đồng bào nơi đây không rành tiếng Kinh, phần nữa do tư tưởng bài Kinh có từ thời Ngô Đình Diệm trước đó nên người Kinh khó có thể mang hàng hóa lên đó để trao đổi buôn bán.

Nói một chút về tư tưởng bài Kinh, do vào thời Ngô Đình Diệm, ông này có ra chính sách thu nhận dân Bắc Việt di cư vào nam khi đất nước chia cắt ở vĩ tuyến 17 vào năm 1954. Hai triêu đồng bào Bắc Việt đã di cư vào Nam phần lớn được bố trí ở các vùng kinh tế mới trên Tây Nguyên. Điều này đồng nghĩa với việc lấn đất của phần lớn các tộc người bản địa nơi đây. Người Tây Nguyên không sống như người miền xuôi. Với người miền xuôi thì đất nhà, đất làng, đất trồng trọt là đất của mình và được đánh dấu lãnh thổ hẳn hoi. Còn đất hoang là đất của nhà nước, ai siêng năng khai hoang tới đâu thì hưởng tới đó. Nhưng với người Tây Nguyên thì dù là làng mạc của họ có nhỏ đến đâu hay chỉ với vài chục nóc nhà nhưng cánh rừng bạc ngàn bao bọc lấy ngôi làng đó là của tổ tiên họ để lại và là tài sản của họ. Từ cánh rừng đó họ có thể kiếm ăn, săn bắt, trồng trọt… nuôi sống gia đình và tộc người của họ. Ông Ngô Đình Diệm cắt rừng hoang, xé núi để chia đất cho người Bắc Việt lên lập làng như là đã cướp đi tài sản, nơi kiếm sống của họ nên họ rất giận và có thành kiến với phần lớn người Kinh.

Trở lại câu chuyện về người Chăm Nam Bộ thì vào thời đó có rất nhiều người nảy ra ý tưởng mang hàng hóa lên buôn bán, trao đổi với người Tây Nguyên. Do người Chăm cũng thuộc nhóm dân tộc thiểu số và do tiếng Chăm thuộc nhóm Melayu Polynesian nên tiếng Chăm có ngữ vựng khá giống với tiếng Jrai, Radhe, Raglai… nên họ cũng giao tiếp được phần nào từ đây đã gây được thiện cảm nên dễ tiếp xúc bán hàng. Hơn nữa người Chăm là tộc người miền xuôi nên rất rành rõi với các mặc hàng miền xuôi và họ cũng rất rành về cách thức buôn bán, đổi chác.

Phần lớn người Tây Nguyên không có tiền, họ thường đổi thổ cẩm, ngà voi, các loại cây rừng, thảo mộc… để đổi lấy vải miền xuôi ( chủ yếu là vải Thái), gạo miền xuôi ( vì người Tây Nguyên cho rằng gạo miền xuôi ăn ngon hơn), các nhu yếu phẩm như nồi, niêu, xoang, chảo… Người Chăm thường đổi lấy các vật phẩm đấy từ người Tây Nguyên rồi lại mang xuống miền xuôi bán lại để lấy tiền.

Nhận thấy việc người Chăm dễ tiếp xúc với người Tây Nguyên và đây như là một tiềm năng lớn để gom các cổ vật hay những vật dụng xưa đặc trưng của người đồng bào. Một số thương buôn người Kinh đã đặc hàng những người Chăm buôn bán nhỏ lẻ nếu thu gom được những mặc hàng đó thì liên hệ họ để bán lại, họ sẽ thu với giá cao. Mặc hàng mà họ ưa chuộng nhất là những chiếc ché đựng rượu cần xưa mà các gia đình Tây Nguyên nào cũng có từ vài cái đến vài chục cái trong nhà. Người Chăm thời đó bắt đầu đổi chác hay thậm chí dùng tiền để mua lại những chiếc ché ấy rồi vận chuyển về xuôi bán cho các nhà sưu tầm hay thương lái ( cổ vật) người Kinh.

Thuở đó ở Châu Giang ( Tân Châu, An giang) có một gia đình chuyển hẳn sang việc kinh doanh ché rượu cần. Cả gia đình thu gom vốn luyến và những người đàn ông trong nhà đều lên lang bạc trong các vùng đồng bào Tây Nguyên để lùng mua ché cổ. Thời này người Lào cũng đến tìm mua rất nhiều nên ché càng ngày càng khang hiếm và tìm kiếm rất khó khăn. Về gia đình làm nghề thu mua ché ở Châu Giang thì họ thường tìm mua và tập trung hàng lại ở Sài Gòn rồi khi có nhiều mới chuyển xuống quê nhà Châu Đốc, ở đấy các thương lái sẽ đến thu và họ mang sang Campuchia hay Thái gì đấy do vùng Châu Giang rất gần với Campuchia. Mỗi lần ché được tập trung về quê thì họ thường xếp ché đầy cả gian nhà sàn phía trước và sau đó họ đợi khoảng nửa tháng hoặc hơn thì thương lái sẽ đến thu mua.

Đợt đấy họ thu mua được nhiều nên ché chuyển về quê xếp đầy cả nhà sàn, cái nào cái nấy cũng rất đẹp với hình rồng được khắc nổi trên thành ché nhìn rất sinh động. Nhưng lạ một nổi khi ché được xếp xong thì tối hôm đó đứa bé hai tháng tuổi trong nhà không tài nào ngủ được. Nó cứ quấy khóc mà không biết vì nguyên nhân gì. Người nhà sợ bé đau bụng nên lấy lá trầu hơ lửa đấp vào bụng bé, nhưng bé càng khóc lớn hơn. Thấy tình hình không ổn nên hai vợ chồng bế bé sang nhà nội (tục người Chăm là ở rể) gần đó ở nhờ. Chỉ cần xuống khỏi cầu thang nhà đó thì đứa bé ngưng khóc ngay. Người Chăm rất nhạy những vụ tâm linh nên hai vợ chồng cũng ngầm hiểu và mang con sang nhà nội sống một thời gian luôn chờ đống ché này bán đi thì mới về lại.

Thời đấy người Chăm vẫn dùng đèn dầu, và do phía gian nhà trên là nơi chất ché đầy hết không ai ở nên gian này không được thấp đèn vì thế nên tối om. Ánh đèn dầu từ gian nhà sau hắc lên những tia sáng yếu ớt cũng đủ làm những chiếc ché đổ bóng xuống sàn nhà. Và khi có gió thổ qua những ngọn đèn dầu thì ánh lửa sẽ phấp phới khiến cho những chiếc bóng từ những chiếc ché đó cũng phấp phới trên sàn nhà nhìn hơi ớn và âm u khó tả.

Vào một vài đêm đầu, người nhà như loáng thoáng nghe đc tiếng đếm từ phía nhà trên. Dường như cứ vào mỗi nửa đêm thì sẽ nghe văng vẳng tiếng đếm. Giọng đếm nghe khá giống tiếng Chăm nên người nhà có thể hiểu được nhưng vì do ở thôn quê ngày xưa cứ vào 7, 8 giờ tối thì mọi người đã ngủ nên vào mỗi giữa đêm thì mọi người phần lớn đã ngủ say. Nếu có nghe được thì cũng chỉ là những tiếng loáng thoáng mà trong cơn ngủ say thì chẳng ai thèm để tâm đến.

Vào tối hôm đó một chị trong nhà buồn tiểu vào lúc nửa đêm, chị dậy và ra dưới nhà sau để đi vệ sinh. Khi về lại chỗ ngủ thì chị nghe loáng thoáng tiếng người đếm. Do chỗ ngủ chị sát gian nhà trước nên chị biết được tiếng đếm đó xuất phát từ gian nhà trước.

- Sa boh cé, dua boh cé, tlao boh cé, pă boh cé, ema boh cé… ( một cái ché, hai cái ché, ba cái ché, bốn cái ché, năm cái ché…)

Tiếng đếm không giống tiếng người mà cứ văng vẳng, vang vang âm trì rất khó tả. Chị cố nghe cho kĩ thì khi đếm tới số mười bỗng dưng tiếng đếm ngưng lại rồi một giọng cười làm nổi gai ốc the thé vang lên. Chị biết là có ma nhưng vốn phụ nữ tính sợ sệt nên chị chui rút vô chăn và cố ngủ giả vờ như không nghe không thấy gì. Sáng dậy chị kể cho mọi người trong nhà nghe mọi người đều nói những cái ché này được mang từ rừng về nên ma quỷ bám theo là điều khó tránh. Cố vài ngày rồi thương lái đến lấy là mọi chuyện lại như cũ. Chị nghe nói vậy cũng im nhưng tối hôm sau chị tránh và đi ngủ chỗ khác vì quá sợ.

Cũng trong ngày đó thương lái đến lấy ché nhưng do chủ gia ra giá cao vì ché lần này rất đẹp. Do không chuẩn bị trước nên người này chỉ lấy tầm 10 cái vì thế gian nhà trên vẫn còn lại rất nhiều ché. Tối đó vào giữa khuya, nhiều người trong nhà dù đã ngủ nhưng vẫn nghe rõ mồn một tiếng đếm.

- sa boh cé, dua boh cé… ( một cái ché, hai cái ché…)

Nhưng lần này tiếng đếm chỉ dừng lại ở con số 5 và thay vì là tiếng cười như những lần trước thì là một tiếng khóc nức nở, oán than cứ văng vẳng khiến ai nghe thấy được cũng nổi gai óc. Nấc nghẹn trong tiếng khóc ấy là tiếng rên:

- Nao sang…wit sang… ( về nhà… quay về nhà...)

Tất cả mọi người tuy ai cũng nghe và hiểu được nhưng không ai bảo ai cứ nằm yên và trùm khăn kín mít đợi trời sáng. Sáng hôm đấy mọi người trong nhà pha trà ngồi lại ăn sáng cùng nhau và họp nói chuyện. Họ nhất trí là gọi thương lái hôm qua đến và bán theo giá cũ chứ không lên giá. Một anh trong nhà tức tốc chạy xe đạp qua bên kia Châu Đốc để gọi thương lái sang nhưng thương lái đó đã sang Campuchia để giao 10 cái ché vừa mua hôm qua của nhà này cho khách nên hai ngày nữa mới về vì thế cả nhà đành sống tiếp với những cái ché đó trong hai ngày. Tối nào cứ đến giữa khuya thì họ đều nghe tiếng đếm và tiếng khóc y chang như vậy nhưng mọi người cứ cố lơ và đợi trời sáng vì không ai có thể ngủ được.

Vào buổi chiều của ngày hôm sau, có một bà dì chuyên đẩy xe đi bán bún tươi vào nhà này để xin tiền bún. Chị nói người trong nhà này đã mua bún chị hai lần và dặn là chiều hôm nay sẽ trả. Người trong nhà hỏi nhau nhưng không ai đã từng mua bún của bà này và bà cũng nói rằng người mua bún không phải mấy người này. Lúc đó ai cũng thấy lạ vì vào lúc này đây mọi người trong nhà đều tập trung đủ cả, không ai mua thì bà ấy lên nhà này đòi tiền ai?. Nhưng bà bán bún tươi cứ nhất quyết rằng người mua bún đó bước ra từ nhà này và xuống cầu thang để lấy bún, lúc sáng này cũng mới lấy gói bún nữa. Bà còn nói rằng người đó nhất định là người Chà ( cách người Kinh gọi người Chăm) do có da nâu đen, đầu đội khăn và mặc chăn. Người nhà hỏi kĩ hơn thì bà nói có thấy người đó đeo kiềng bạc rất to ở cổ. Người Chăm không đeo kiềng bạc nên người nhà cũng hiểu được vấn đề vội lấy tiền trả bà bán bún rồi kéo nhau đến bên mấy cái ché để xem. Trong một đống ché được xếp hơn nửa gian nhà đó có một cái ché men xanh rất đẹp ở giữa nhà, phía trong ché có một chiếc lá sen, thứ lá mà người bán bún tươi dùng để gói bún và một gói bún còn nguyên chắc có lẽ là gói bún vừa mua hồi sáng. Người Tây Nguyên cũng có da ngâm, cũng mặc chăn và đội đầu nên bà bán bún cứ tưởng nhầm là người Chăm và là người trong nhà này. Thấy được cảnh này nên tối đó cả nhà chiên bánh, pha trà để mời người làng sau lễ nguyện isyak ( 7h30 tối) thì đến nhà để cùng đọc kinh Yasin. Buổi tối đó trải qua rất yên ắng, không có hiện tượng gì xảy ra. Sáng hôm sau thương lái đến lấy ché, người nhà giao hết cho thương lái nhưng giữ lại cái ché màu xanh ngọc bảo là nhà muốn giữ lại làm kĩ niệm. Kì thực người nhà muốn chuyển chiếc ché có gói bún bên trong ấy về lại nơi đã mua nó. Khi chiếc ché đó được chuyển về lại nhà người đã bán và anh người Chăm cũng chỉ xin đổi chác lại các món khác có giá trị tương đương chứ không đòi tiền lại. Trong lúc đó anh cũng kể hết mọi sự việc đã xảy ra ở nhà mình cho gia đình của chiếc ché đó nghe.

Thì ra sự thật rất đau lòng, do tham lợi nên gia đình người đồng bào này đã đi đào lại phần mộ của cha ông mình. Vì xưa gia đình anh thuộc gia tộc lớn nên khi mất đã chôn theo rất nhiều đồ. Trong ngôi một mà anh khai quật đó có đến tận 10 cái ché và anh đã lấy về để bán. Quả thật chắc là vì vậy nên ngày đầu khi những cái ché được xếp đều trong nhà thì giọng đếm ấy đếm đến cái thứ 10 thì cười tươi. Nhưng khi ché đẽ bán đi 10 cái mà trong đó có 5 cái là lấy từ những cái ché của phần mộ đó nên tiếng đếm chỉ dừng lại ở con số 5 rồi khóc. Và do gia tộc anh là người Ede nên tiếng đếm, tiếng than từ cái ché ấy nói ra thì người Chăm nghe hiểu. Tiếng rên từ trong ché tha thiết đòi về nhà khiến người nghe cho dù là sợ và nổi gai óc nhưng vẫn cảm thấy rất nao lòng vì thế mà anh người Chăm đã cất công mang lên tận Tây Nguyên để trả lại. Gia chủ nhận lấy cái ché và cám ơn anh đã kể lại câu chuyện đó, họ hứa sẽ mang cái ché này chôn lại ở nơi mà họ đã đào lên trước đó.

 

Nguồn: Facebook

 

Be the first person to like this.