kevin cham
by On February 18, 2019
128 views

LƯU DẤU CHAMPA TẠI CẨM LỆ

Đinh Bá Truyền (ThS., Cựu sinh viên Đại học Sorbonne (Pháp))
và Bùi Ngọc Minh (Phó Giám đốc Trung tâm Văn hóa - Thể thao quận Cẩm Lệ)

Quận Cẩm Lệ[1], miền đất cổ xưa, nơi lưu dấu trong lòng bao điều huyền bí của một nền văn minh rực rỡ ngót 2000 năm tuổi. Nơi đây, từ rất lâu đời, những cư dân của vương quốc Champa trù phú đã biết dẫn thủy nhập điền, canh tác lúa chiêm, trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ, dệt lụa và đã kiến tạo lên những đền đài, mộ tháp nguy nga.[2] Nhưng thế kỷ XV trôi qua như một cơn hồng thủy, cơ hồ muốn nhấn chìm tất cả mảnh đất này, để rồi chỉ còn các phế tích Chàm rải rác khắp nơi. Đến đầu thế kỷ XX, những phế tích Chàm trên địa bàn quận Cẩm Lệ ngày nay mới được các nhà Champa học lừng danh như Albert Sallet, Henri Parmentier, Edouard Huber… để tâm nghiên cứu và chính họ là lớp người đầu tiên vén lên bức màn bí mật về một nền văn minh cổ kính đã bị tàn phá, lãng quên.

Trong vòng bốn năm lặn lội sưu tầm các cổ vật cho Bảo tàng Chăm, từ năm 1919 đến 1923, bác sĩ Sallet đã nhiều lần đến Cẩm Lệ. Tại thôn Cẩm Bắc (nay thuộc phường Hòa Thọ Đông), ông đã phát hiện ra một di chỉ Champa khá quan trọng. Đó là Linh Sơn, một vùng đồi thấp có rất nhiều mảnh vụn cổ vật từ một phế tích tháp Chăm, địa điểm này tọa lạc gần bến đò ngang Cẩm Lệ và kéo dài khá xa.[3] Ngày nay, có thể xác định di chỉ Linh Sơn nằm trên dải đất kéo dài từ Gò Thị lên phía bắc mà điểm cuối của nó là Gò Theo. Địa danh Gò Theo là do đọc trại từ Gò Thiên, một cách gọi vắn tắt của Thiên Y A Na, vị Thánh Mẫu Ponagar của người Chăm.[4]

Tại Cẩm Bắc và Hóa Quê[5], Sallet đã khảo sát những giếng cổ Chăm khá bề thế, sâu thẳm, thành lát gạch đá kiên cố. Các giếng nước này tồn tại như có phép màu, và dùng để cất dấu những bia ký, những tác phẩm điêu khắc và cả đồ vật bằng vàng.[6] Không may mắn như gạch đá của các giếng Hời (Hời là một trong những tên gọi người Chăm của người Việt trước đây, nhiều phiến đá sa thạch nền nguyên là bệ thờ của tháp Chăm Cẩm Bắc bị dân làng xoi thủng, làm thành lò để rang đồ cúng, nhiều bộ Linga mà dân làng cho là “cối xay mọi” bị đập ra để lấy đá xây dựng, gạch Chăm từ phế tích cũng được tận dụng làm đường.[7] Tuy thế, có một số phiến đá Hời từ phế tích mà dân làng tin là linh thiêng đã biến thành Thần Thạch. Tín ngưỡng dân gian thờ Đá phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa Chăm - Việt, nó không chỉ được bảo lưu tại Cẩm Lệ mà còn hiệu hữu trên nhiều vùng đất khác ở Trung kỳ.[8] Miễu thờ Thần Thạch được A. Sallet tìm thấy tại di chỉ Linh Sơn, trên bệ thờ có một phiến đá Hời, hai mặt khắc đầy chữ Nho, rất dài, chép rõ danh sách những người cúng dường, đề niên hiệu Dương Hòa năm thứ 6 (1648) và niên hiệu Khánh Đức năm thứ 9 (1657), đều thuộc triều vua Lê Thần Tông.[9] Sallet còn tìm thấy một trụ biểu bằng đá của tháp Chăm Cẩm Bắc đã trở thành cột mốc phân định ranh giới giữa hai làng Cẩm Lệ và Hóa Quê, trụ được dựng vào năm Gia Long thứ 12 (1813), đang bị vùi ở dưới mương. Ông đề nghị trục nó lên. Trụ đá này đột nhiên trở nên linh thiêng bởi sự ngộ nhận của dân làng và nghiễm nhiên trở thành Ông Mốc, được dân địa phương và những khách qua đường dâng hương, sùng bái.[10]

Ngày nay, tuy phế tích tháp Cẩm Bắc, Thần Thạch tại miễu Linh Sơn[11] và bệ thờ Ông Mốc đã không còn nữa nhưng tín ngưỡng thờ đá vẫn còn lưu truyền tại Cẩm Lệ, bằng chứng là mỏm Đá Ông có đặt tượng Phật Bà tại bờ bắc sông Cẩm Lệ. Đúng đêm rằm hay đêm ba mươi âm lịch hàng tháng, đứng trên cầu Cẩm Lệ nhìn về hướng Đảo Nổi, ta dễ dàng nhận ra tổ hợp mỏm Đá Ông - tượng Phật Bà được nhiều tín hữu dùng thuyền đến viếng, dâng hương hoa chiêm bái và thả đèn hoa đăng sáng cả mặt sông. Đầu những năm 80 của thế kỷ XX, do tác động của dòng chảy và sự sạt lở mà một mỏm đá đen trồi lên tại vị trí hiện thấy. Trải qua vài mùa lũ lụt nữa, mỏm đá vẫn đứng nguyên chỗ cũ, quá trình “thiêng hóa” diễn ra và thế là dân địa phương bắt đầu sùng kính mỏm đá. Ban đầu họ chỉ đặt một lư hương lên trên, dần dà dựng thêm tượng Phật Bà. Chính quyền sở tại thời đó, với lý do bài trừ mê tín dị đoan, đã cho di dời tượng Phật Bà từ mỏm đá về chùa Cẩm Nam. Vài năm sau, thấy không ai đả động đến, dân địa phương thỉnh tượng Phật Bà ra lại mỏm đá, tiếng lành đồn xa, tổ hợp mỏm Đá - tượng Phật Bà ngày càng đông khách hành hương. Tất nhiên, để góp phần tăng độ linh thiêng cho tổ hợp này, những câu chuyện truyền miệng trong dân chúng, có khi ở chợ hay lúc trà dư tửu hậu, kể về những sự không may mà các vị quan chức có liên quan đến vụ di dời gặp phải, nhưng sự thật đúng đến đâu, chẳng ai có thể xác minh được. Thật ra mô thức kết hợp thờ mỏm Đá và tượng Phật Bà ở đây có nguồn gốc từ mô thức thờ Đá - thờ Mẫu của người Việt ở xứ Đàng Trong từ thế kỷ XVI, mà mô thức thờ Đá - thờ Mẫu lại có nguồn gốc từ việc thờ Linga - Yoni.[12] Tóm lại, hiện tượng thờ mỏm Đá - tượng Phật Bà tại bờ sông Cẩm Lệ ngày nay chẳng qua chỉ là sự phản ánh một cách chính xác quá trình tiếp biến văn hóa tín ngưỡng phồn thực từ người Chăm xưa. Nhưng cũng qua hiện tượng này, mới thấy tín ngưỡng dân gian Chăm - Việt nó có sức sống mạnh mẽ và bền lâu đến nhường nào (trong khi đó đền đài, mộ tháp đều đã biến mất!).

Những di chỉ Champa thường gắn liền với những lời đồn thổi về các kho vàng được người Chăm đem táng theo. Đã có nhiều trường hợp ghi nhận tìm được vàng Hời. Chẳng hạn: năm 1903, tại Mỹ Sơn, Parmentier đào được một cái chum đựng một bộ sưu tập toàn đồ trang sức bằng vàng; tại La Thọ, người ta cũng thu nhặt từ một cuộc khai quật nhiều đĩa bạc và các món trang sức bằng vàng.[13] Tại làng Hóa Quê, đầu thế kỷ XX, nhà bi ký học trứ danh Edouard Huber, giáo sư của trường Viễn Đông Bác Cổ (E.F.E.O.), đi khảo sát một tấm bia Chăm, ông ta định phát quang xung quanh một ngôi miếu tọa lạc trên “cồn Dàng”[14] để tìm cổ vật, tức thì tiếng đồn lan tràn, đến tận Đà Nẵng rằng ở đó có đủ loại thú vật khác nhau được làm từ vàng khối, nào bò, rùa, nai được chôn khắp dưới đất, và người ta còn có thể nhặt được các quả thảo mộc làm bằng kim loại quý như vàng, bạc.[15 ]

Trong khoảng 25 năm trở lại đây, tại khu vực Gò Theo thuộc di chỉ phế tích tháp Cẩm Bắc mà Sallet đã từng khảo sát, đã có bốn trường hợp ghi nhận là đã đào được vàng Chăm. Khoảng năm 1989, ba anh em H., L., N. rủ nhau đào những ngôi mộ Chàm có hình mu rùa để kiếm đồ tùy táng, bán lấy tiền. Họ đào được một tấm bia mộ, bèn thuê người dịch, ai ngờ đó là bản đồ chỉ đến kho báu được chôn trong một ngôi mộ khác nằm cách đấy khoảng 300 m về hướng đông bắc. Nhờ thế, ba người đã tìm được rất nhiều vàng bạc trong mộ. Biết tin, nhiều người nữa cũng tìm vào bên trong, họ nhặt được rất nhiều đồng tiền thời xưa còn rơi vãi và 3 chiếc đèn dầu phụng Chăm. Trúng được kho báu, ba anh em H., L., N. trở nên sung túc. Nhưng “ăn vàng Hời ắt rơi nước mắt”, chỉ độ vài năm sau, nội bộ anh em bất hòa, con cái trở nên hư hỏng, gia cảnh sa sút và họ đã phải bán nhà đi nơi khác. Gần đó, anh P. cũng đào được hũ đựng vàng chôn ngay dưới kim tĩnh khoảng 20 cm. Từ ngày có vàng, cuộc sống gia đình anh P. có khá lên, nhưng chẳng được bao lâu anh ta qua đời trong một vụ tai nạn. Trường hợp tương tự, cách đây khoảng 10 năm, ông N. trong một lần xới đất trồng rau, vô tình đào trúng một buồng chuối bằng vàng, tuy ông N. đã đem số vàng đi làm từ thiện, nhưng ít năm sau đó ông ta vẫn bị đụng xe và nằm liệt giường cho đến nay.[16 ]

Những trường hợp ở Gò Theo làm chúng tôi nhớ đến hoàn cảnh của ông Trà Văn X, nhà ông ở ngay trên nền phế tích Phật viện Đồng Dương (nay thuộc huyện Thăng Bình, Quảng Nam). Năm 1978, trong lúc đang đào đất để làm chuồng heo thì ông Trà phát hiện ra bức tượng Bồ tát Lakṣmīndra-Lokeśvara bằng đồng thau.[17] Hai mươi năm sau, chẳng những hai đứa con của ông đều lần lượt qua đời vì tai nạn giao thông mà bản thân ông cũng bị đụng xe chấn thương sọ não, hiện nay gia đình chỉ còn hai vợ chồng thui thủi sống qua ngày trong cảnh cô hàn.[18] Ngẫm lại câu “ăn vàng Hời ắt rơi nước mắt” quả chẳng sai.

Gần đây nhất, tại Gò Theo, vào ngày 10.4.2012, đã có một người đi rà phế liệu đào được vàng Hời. Địa điểm phát hiện hũ vàng là lô đất đang xây nhà của chị Nguyễn Thị Thùy T. thuộc tổ 34, phường Hòa Thọ Đông. Người rà phế liệu dùng cuốc đào lên một nắp đồng có 5 lớp (mỗi lớp dày khoảng 4 mm) đã bị ôxy hóa và một hũ gốm Chăm bên dưới đã bị vỡ, bên trong có chứa 6 kg kim loại màu vàng. Người rà phế liệu thu gom tất cả và chở đi mất dạng, đến nay vẫn chưa rõ tung tích. Khi người này vừa rời hiện trường, người dân đem một số mảnh kim loại rơi vãi đi thử ở tiệm kim hoàn gần đó và bất ngờ nhận ra đó là vàng, nhưng tuổi vàng còn non. Ngay sau đó, người dân xung quanh kéo đến cố tìm những mảnh vụn còn lại và mang đi bán được tổng cộng gần 10 triệu đồng.Sự việc qua đi, chủ nhà cho làm móng tiếp và đến nay nhà đã xây xong.

Nằm trên địa bàn phường Hòa Thọ Đông còn có một di tích Champa nữa, đó là nền móng tháp Phong Lệ. Vào đầu thế kỷ XX, phế tích tháp Phong Lệ lọt thỏm trong khu vực đồn điền chè, cà phê của ông chủ Camille Paris.[19] Tại đây, năm 1900, ông ta đã sưu tầm được khá nhiều cổ vật Chăm và đem bán cho một người Pháp, người này bán tiếp cho một người Hoa. Trước lời đề nghị mua lại từ kiến trúc sư Parmentier, người chủ mới của bộ sưu tập đã vui lòng hiến tặng toàn bộ số cổ vật do Paris thu thập cho trường Viễn Đông Bác Cổ. Theo Parmentier thì đa phần các cổ vật có nguồn gốc từ một tháp Chăm bị sụp thành gò nhỏ trong khu vực đồn điền và chủ đồn điền đã lấy gạch từ đó để xây nhà.[20] Năm 1909, Parmentier đã thống kê được hơn 20 món cổ vật mang về từ Phong Lệ, trong đó có những tác phẩm điêu khắc tuyệt đẹp như bộ Linga biểu tượng dương vật của thần Siva, tượng bò thần Nandin, phù điêu thần Siva múa giữa đàn rắn thần Naga theo âm điệu thoát ra từ bốn nhạc công, phù điêu thần Vishnu có đôi môi dày dưới cánh mũi nở to, phù điêu đoàn tiên nữ Apsara thanh tao siêu thoát… Cũng trong năm đó, Parmentier đã đến khảo sát phế tích tháp Phong Lệ và nhận định tại đây có thể đã có một quần thể gồm nhiều công trình kiến trúc khác nhau. Ngoài ra ông còn thấy có rất nhiều gạch Chăm đã được dùng để xây nhà và lát cả một con đường dẫn đến bờ sông.[21] Hiện nay, trong số hơn 20 món cổ vật tìm thấy tại Phong Lệ có 9 tác phẩm điêu khắc được trưng bày tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng.

Trong khi bộ sưu tập cổ vật Phong Lệ được nhiều người biết đến thì nền móng của phế tích tháp Phong Lệ bị vùi sâu vào lòng đất. Những tưởng nó đã mất tích thì tháng 4.2011, gia đình ông Ông Văn Tồn và bà Lê Thị Út, trú tại xóm Cấm (tổ 3, phường Hòa Thọ Đông) khi đào móng làm nhà tại lô đất số 173 và 101 đã phát hiện ra một pho tượng cổ đầu người mình chim (tượng thần điểu Kinnari trong thần thoại Ấn giáo) và nhiều gạch Chăm. Ngay sau đó, Bảo tàng Điêu khắc Chăm đã thực hiện khai quật khẩn cấp đợt 1. Kết quả sơ bộ xác định đây là nền móng tháp Phong Lệ trong quần thể tháp Chăm Hóa Quê. Đoàn đã khai quật 5 hố với diện tích khoảng 206 m2, phát hiện được tháp cổng và bắt đầu lộ một phần của tháp chính. Đến tháng 8.2012, Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng phối hợp với các nhà khảo cổ của Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (Đại học Quốc gia Hà Nội) tiến hành khai quật đợt 2. Quá trình khai quật đã làm lộ rõ quy mô, cấu trúc chân móng của một tòa tháp Chăm rất lớn, chân móng có hình chữ Thập, từ cửa Đông đến cửa Tây có chiều dài 23,15 m, và từ cửa Bắc đến cửa Nam có chiều dài 19,3 m. Từ móng tường Đông đến móng tường Tây dài 15,85 m và từ móng tường Bắc đến móng tường Nam dài 16,15 m. Đặc biệt đoàn đã phát hiện ra hố thiêng nơi đặt bệ thờ bộ Linga-Yoni biểu tượng của thần Siva, đây là hố thiêng có kích thước lớn nhất trong các hố thiêng của đền tháp Chăm được phát hiện đến thời điểm này. Ngoài ra, dưới phần tháp chính còn có 8 ô khám, mỗi ô đều có chứa cát, một viên gạch hình vuông đặt trên một hòn đá cuội và dưới cùng là hai viên đá thạch anh có nhiều đầu nhọn. Hiện nay công tác khai quật tại di tích Chăm Phong Lệ đã tạm dừng, chắc sẽ có một dự án khai quật, khảo cổ học quy mô lớn trên diện rộng để tiếp tục giải mã những bí ẩn dưới nền tháp.

Nằm kề phía đông của phường Hòa Thọ Đông là phường Khuê Trung, nơi đây có một di chỉ Champa khá nổi tiếng là phế tích tháp Hóa Quê (nay thuộc tổ 20, Bình Hòa). Đầu thế kỷ XX, ông Rougier, tham tá hạng 2 tòa Công sứ Hội An, đã tìm ra di chỉ này tại “cồn Dàng”, đồng thời phát hiện một tấm bia Chăm bốn mặt.[22] Ngay sau đó, giáo sư Huber đã đến nghiên cứu, phiên âm Latinh và dịch văn bia Hóa Quê ra Pháp ngữ, toàn bộ công trình này sau đó được đăng trên tập san của trường Viễn Đông Bác Cổ, số XI, năm 1911. Bia Hóa Quê làm bằng đá sa thạch, cao 120 cm, rộng 63 cm và dày 30 cm, bốn mặt bia đều có văn khắc:

  • Mặt A (Đông) có 17 dòng chữ bằng Phạn ngữ, hành văn theo thể thi kệ.
    - Mặt B (Tây) có 19 dòng chữ bằng Phạn ngữ, theo thể thi kệ và văn xuôi.
    - Mặt C (Bắc) có 17 dòng chữ bằng Phạn ngữ, theo thể văn xuôi.
    - Mặt D (Nam) có 19 dòng chữ bằng Chăm ngữ cổ đại theo thể văn vần.

Theo như văn bia, vào cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X, một gia đình Chăm quyền quý đã dựng lên ba ngôi tháp, một tại địa điểm dựng bia và hai cái còn lại tại vùng đất lân cận xung quanh đó. Trên bia có khắc bốn mốc thời gian, đó là năm 820, 829, 830 và 831 niên lịch Saka. Người Chăm dùng lịch Saka, một loại lịch cổ Ấn Độ. Kỷ nguyên Saka so với Công lịch bắt đầu tính sau Thiên Chúa giáng sinh 78 năm, vậy bốn mốc thời gian tương ứng là năm 898, 907, 908 và 909 Công nguyên. Mốc thời gian đầu tiên là dưới triều vua Jaya Siṃhavarman I, và ba mốc còn lại thuộc triều vua Bhadravarman II. Mặt đầu tiên văn bia khắc đầy một lời cầu khấn dài đến thần Siva, rồi đến bốn khổ thơ ca ngợi công đức vị vua đang trị vì Bhadravarman, người được sánh ngang với vị vua Yudhiṣṭhira trong thiên anh hùng ca Mahbhārata của người Hindu. Những mặt tiếp theo là những lời tán tụng đến một gia đình hoàng thân có quan hệ rất gần với hoàng gia và có quê quán ở khu vực xung quanh nơi đặt bia (Cẩm Lệ ngày nay), đây là môn phiệt đã dựng lên cụm tháp Hóa Quê. Người chồng có tước hiệu Ājñā (Hoàng thân), tên là Sārthavāha, đã kết hôn với bà Pu Po Ku Rudrapura. Hoàng thân Sārthavāha là em vợ vua Indravarman II của vương triều Đồng Dương hùng mạnh, và cũng là cháu ruột của vua Rudravarman (ông nội của vua Indravarman II). Vị hoàng thân Sārthavāha có một cô con gái, vương hậu Ugradevī, người đã kết hôn với vị vua đang trị vì Bhadravarman II, và có ba công tử: Mahāsāmanta, Narendranṛpavitra, Jayendrapati (xem Phả hệ vương triều Đồng Dương - Indrapura ở dưới đây). Tất cả ba vị công tử này đều đang giữ những chức vụ cao cấp bên cạnh vua Bhadravarman II. Vị tam công tử, quan Thượng thư Jayendrapati, là một học giả uyên bác. Chính ông là người đã soạn ra những bài thi kệ và văn xuôi cho chín tấm bia được dựng trước các tháp Chăm: hai tấm được dựng bởi vua Jaya Siṃhavarman I và bảy tấm từ vua Bhadravarman II.[23] Văn bia còn cho chúng ta biết để thưởng công soạn chín bài ký, vua Bhadravarman II đã ban cho Thượng thư Jayendrapati một cỗ kiệu, một cái lọng bằng lông công, một bao kiếm bằng vàng, nhiều bình sứ có quai và bình gốm lớn, một cái đĩa bằng bạc, một đai thắt lưng, nhiều khuyên tai và vòng tay bằng vàng, một cặp váy bằng lụa ....[24]

Theo như văn bia, vợ của Hoàng thân Sārthavāha có tước hiệu là Pu Po Ku (Nữ Thánh chủ) và mang tên Rudrapura (thành phố thần Bão tố), Pu Po Ku Rudrapura có nghĩa là Nữ Thánh chủ thành phố thần Bão tố, mà bản quán của gia đình Sārthavāha và Pu Po Ku Rudrapura là khu vực lân cận xung quanh địa điểm dựng bia Hóa Quê, từ đó thể biết rằng vào cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X vùng đất Cẩm Lệ có danh xưng là Rudrapura - thành phố Thần Bão tố.[25]

Trải qua hơn ngàn năm, khu đất nơi tháp Hóa Quê tọa lạc nay trở thành Khu di tích lịch sử văn hóa Khuê Trung bao gồm phế tích tháp Hóa Quê, miếu Bà, giếng Chăm, nhà thờ Tiền Hiền và nghĩa trũng Hòa Vang. Gần đây, khi phát quang khu vực này người ta lại tìm thấy một bệ Yoni kích thước 1 m x 0,8 m và một tượng thần Ganeśa đã mất một tay cao 55 cm, hiện nay bệ và tượng được trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Đà Nẵng. Sau miếu Bà 100 m, có một phần bệ thờ Linga chạm khắc những dải xoắn theo phong cách Đồng Dương. Chắc chắn là dân làng đã tận dụng gạch đá từ phế tích để xây miếu, rất có khả năng móng tháp nằm ngay dưới miếu. Trong miếu Bà, thấy thờ bốn pho tượng Chăm có nguồn gốc Ấn giáo đã được Việt hóa bằng cách đắp thạch cao, tô màu, đội mão, choàng y để trở thành Thần Mẫu. May còn một pho tượng bên trái ngoài cùng mà đầu chưa bị tô màu, chúng tôi nhận ra ngay là đầu thần Kumāra (con trai thần Siva), một vị nam thần Chăm đã được sắc phong thành Bà Thổ (!). Điều kỳ lạ là trong miếu chỉ có bốn pho tượng mà lại có bài vị kèm sắc phong đến năm Bà tương ứng với Ngũ Hành. Tại sao một nam thần Chăm lại biến thành một nữ thần Việt? Đó là do tín ngưỡng thờ Mẫu của người Việt. Vào thế kỷ XV, XVI, trên đường nam tiến, hễ thấy một pho tượng Chăm nào có khuôn mặt giống phụ nữ thì người Việt sẽ đặt ngay lên bàn thờ và nó trở thành những Bà Vú, Bà Hời, Bà Mụ, Bà Phật, Bà Đá, Bà Lồi, Bà Vàng, Bà Ngọc, Bà Thiên, Bà Thai Dương…[26] và trường hợp ở làng Hóa Quê là Bà Ngũ Hành. Trước miếu, ngay phía bên trái, có một giếng Chăm vuông vức tuyệt đẹp, trụ giếng và thành giếng được ghép từ các phiến đá sa thạch một cách tinh xảo. Vì người Chăm cần dùng nước để làm nghi lễ thể tẩy Linga nên niên đại của giếng ắt phải trùng với tháp Hóa Quê, hơn ngàn năm.

Nhờ những dòng Phạn ngữ trên văn bia Hóa Quê do quan Thượng thư triều Đồng Dương Jayendrapati soạn, và nhờ bản dịch sang Pháp ngữ của giáo sư Huber nên chúng ta có thể biết vào cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X, gia đình Hoàng thân Sārthavāha và Nữ Thánh chủ Rudrapura, chủ nhân của mảnh đất trù phú Rudrapura - thành phố thần Bão tố [27] - mà ngày nay mang tên Cẩm Lệ, đã dựng lên cụm tháp Hóa Quê. Cụm gồm ba tháp gần nhau, đó là tháp Śrī-Mahārudra (Cẩm Bắc) thờ Hoàng thân Sārthavāha vào năm 898, tháp Śrī-Mahāśivaliṅgeśvara (Phong Lệ) thờ Parameśvara vào năm 907 và tháp Bhagavatī (Hóa Quê) thờ Nữ Thánh chủ Rudrapura vào năm 908.[28] Nhưng tiếc thay, tất cả đều đã sụp đổ hoàn toàn. Căn cứ mốc thời gian khắc trên bia và trên cơ sở nghiên cứu các di tích, có thể khẳng định cụm tháp Hóa Quê được xây dựng theo phong cách Đồng Dương. Đến nay, chúng ta đã xác định chính xác vị trí nền tháp Hóa Quê là miếu Bà, tổ 20 Bình Hòa, phường Khuê Trung và nền tháp Phong Lệ là lô đất số 173, 101, xóm Cấm, tổ 3, phường Hòa Thọ Đông, nhưng vẫn chưa biết đích xác vị trí nền móng tháp Cẩm Bắc, nó vẫn nằm đâu đó trong lòng đất Linh Sơn.

Ngoài di tích cụm tháp Hóa Quê, đầu thế kỷ XX, tại làng Hòa An (nay thuộc phường Hòa An, quận Cẩm Lệ), Parmentier còn tìm thấy một tượng đá có tư thế ngồi xổm và những đống đổ nát từ gạch đá xây vòm của một tháp Chăm.[29] Ngày nay, một số phế tích của tháp Hòa An vẫn còn được lưu giữ tại chùa An Sơn (tổ 15, phường Hòa An, quận Cẩm Lệ). Vị trí của chùa nằm ngay dưới chân núi Phước Tường[30] và chùa được dựng trên nền một tháp Chăm vào khoảng giữa thế kỷ XIX. Băng qua tam quan, đến giữa sân chùa còn thấy hai trụ cửa bằng đá sa thạch có chạm khắc những dải xoắn theo phong cách Đồng Dương đang được tận dụng làm hai trụ tựa cho một cột cờ (!). Bên trái chùa, thấy có một bệ thờ Linga hình vuông, trên mặt có xuất hiện vết nứt, cạnh đó có hai trụ biểu bằng đá và những phiến đá dày dùng làm đế cho các trụ biểu. Bệ thờ và những phiến đá này được nhà chùa bố trí thành một bộ bàn ghế đá dùng để tiếp khách thập phương (!). Cách đó không xa về hướng tây bắc là một giếng Chăm hình tròn, thành giếng được ghép từ những viên đá sa thạch hình chữ nhật. Trong số các phế tích còn lại, đặc biệt còn có một tượng nam thần, được thờ trong một ngôi miếu nhỏ, nhưng tượng đã mất đầu và bị đắp xi măng tạo thành đầu của một vị hòa thượng nào đó (!). Tư thế ngồi của pho tượng này làm ta liên tưởng đến tượng nam thần đang trưng bày trên đài thờ thuộc Phật viện Đồng Dương (Vihāra Lokeśvara) tại Bảo tàng Điêu khắc Chăm Đà Nẵng. Những gì còn sót lại ở chùa An Sơn cho thấy tháp Hòa An có cùng niên đại với cụm tháp Hóa Quê, cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X.

Qua việc khảo sát những phế tích tháp Chăm tại quận Cẩm Lệ ngày nay, chúng ta có thể hình dung ra diện mạo và quy mô của thành Rudrapura. “Sông Thiêng” của thành là sông Cẩm Lệ, “núi Thiêng” của thành là núi Phước Tường. Trung tâm tôn giáo của thành đặt tại Hòa An và trung tâm chính trị tại khu vực Cẩm Bắc, Phong Lệ, Hóa Quê (phường Hòa Thọ Đông và phường Khuê Trung ngày nay). Theo motif của những thành phố (pura) được hình thành trên các lưu vực sông nhỏ, chảy trên triền dốc đứng, ngăn cách bởi núi non tại vùng Đông Nam Á thời tiền sử do Bennet Bronson đúc kết[31], thì thành Rudrapura ắt có một cảng thị đóng vai trò trung tâm kinh tế - thương mại. Chắc chắn cảng thị này phải nằm gần địa điểm hợp lưu của ba con sông Cẩm Lệ, Vĩnh Điện và Cổ Cò. Rất có khả năng đó là Hiên cảng[32], một cảng cổ nằm tại làng Nại Hiên Tây (nay thuộc phường Bình Hiên, quận Hải Châu) và có thể có thêm một tiền cảng đóng tại làng Nại Hiên Đông (nay thuộc phường Nại Hiên Đông, quận Sơn Trà). Như vậy thành Rudrapura vào cuối thế kỷ thứ IX, đầu thế kỷ thứ X có địa giới khá rộng, nó bắt đầu từ làng Hòa An dưới chân núi Phước Tường trải xuống Cẩm Lệ, rồi kéo dài đến tận Nại Hiên.[33]

Đã có một tòa thành Chăm tồn tại cách đây hơn 1000 năm mà những phế tích của nó đang nằm rải rác khắp nơi trên địa bàn quận Cẩm Lệ. Hy vọng vào một ngày nào đó, tất cả các chân móng tháp sẽ được phát lộ, đến lúc đó chúng ta lại có dịp khám phá thêm nhiều điều kỳ diệu về một nền văn minh huyền bí này. Những lưu dấu Champa tại Cẩm Lệ ngày nay đâu chỉ có những phiến đá, tượng đá hay móng gạch Hời đỏ chói mà còn là niềm tin dai dẳng trong dân gian về thần linh, ma quỷ và nỗi ám ảnh triền miên về những lời nguyền đến từ cõi hư vô. Cái tín ngưỡng thuần cảm tính về một quá khứ Hời đầy bí nhiệm dường như vẫn tồn tại mãi trong tâm thức của mỗi một con người vùng “Cẩm giang Lệ thủy” này…

Chú thích

1 Cẩm Lệ nay là danh xưng của một quận thuộc thành phố Đà Nẵng. Cẩm Lệ (錦 荔) theo Hán Việt từ điển trích dẫn (www.hanviet.org) thì chữ Cẩm (錦) trong từ cẩm tú (錦 繡: tươi đẹp) và chữ Lệ (荔) trong từ lệ chi (荔 枝: cây vải), Cẩm Lệ nghĩa là “Cây vải tươi đẹp”. Tương truyền, danh xưng Cẩm Lệ bắt nguồn từ “Cẩm giang Lệ thủy” (錦 江 荔 水). Nước sông Cẩm ngọt như trái cây vải hay là hai bên bờ sông Cẩm có nhiều cây vải mà có tích này chăng? Theo Ô châu cận lục của Dương Văn An (Huế: Thuận Hóa, 1992), vào đời vua Lê Anh Tông, năm Tân dậu, niên hiệu Chính Trị thứ 4 (1561), Cẩm Lệ là một trong 66 xã của huyện Điện Bàn. Trước năm 1796, làng Cẩm Lệ hoàn toàn nằm phía nam sông Cẩm Lệ. Sau trận lụt năm Bính Thìn (1796), lý trưởng làng Cẩm Lệ thấy vùng đất nam sông Cẩm Lệ ẩm thấp bèn đi xin lý trưởng làng Bình Khương (Bình Thái ngày nay) ở phía bắc sông, cho dân làng Cẩm Lệ đến đó cư trú. Được sự đồng ý của làng Bình Khương, dân làng Cẩm Lệ từ phía nam vượt sông sang phía bắc, khai phá 3 gò đất hoang là Gò Thị, Gò Tràm và Gò Theo để “tái định cư”. Từ đó làng Cẩm Lệ chia thành Cẩm Lệ Nam thôn và Cẩm Lệ Bắc thôn. 
2 Maspéro, Le Royaume de Champa, (Paris et Bruxelles: Les Éditions G. Van Oest, 1928), 35-41.
3 Nguyên văn: “Linh-Sơn 靈 山, de Cẫm-Lệ Bắc-Thôn 錦 荔 北 村, canton de Bình-Thái 平 泰 總, huyện de Hòa-Vang 和 榮 縣. Cette colline qui s’arrête auprès du bac de Cẫm-Lệ, s’étend fort loin: les débris qu’elle montre témoignent d’un important emplacement”. Dẫn theo: Sallet, “Les Souvernirs Chams dans le Folk-lore et les Croyances Annamites du Quang-Nam”, Bulletin des Amis du Vieux Hué (B.A.V.H.), No. 2/1923, 204. 
Địa danh này ngày nay có tên Trung Sơn xứ, chúng tôi nghi ngờ Sallet chép Linh Sơn là chưa đúng, bởi từ thế kỷ XVIII, vùng đất này đã có tên Trung Sơn. Dẫn theo: Phan Khoang, Việt Sử xứ Đàng trong, (Hà Nội: Văn học, 2000), 209.
4 Đào Thái Hanh, “La déesse Thiên-Y-A-Na”, B.A.V.H., No. 2/1914, 163. Gò Theo, điểm cuối của di chỉ Linh Sơn, là vùng đất có tứ cận: phía đông giáp xứ đất Bắc Thuận, phía bắc giáp Đông Phước, phía tây giáp quốc lộ 1A, phía nam giáp thôn Phong Bắc (nay là các tổ từ 34 đến 37, phường Hòa Thọ Đông).
5 Hóa Quê (化 圭), đổi thành Hóa Khuê (化 閨, theo Ô châu cận lục của Dương Văn An, vào đời vua Lê Anh Tông, năm Tân dậu, niên hiệu Chính Trị thứ 4 (1561), Hóa Khuê là một trong 66 xã của huyện Điện Bàn, về sau chia thành ba làng Hóa Khuê Đông, Hóa Khuê Tây và Hóa Khuê Trung (Khuê Trung).
6, 7, 9, 13, 15, 26 Sallet, “Les Souvernirs Chams dans le Folk-lore et les Croyances Annamites du Quang-Nam”, B.A.V.H., No. 2/1923, 207, 209, 209, 220, 220, 213.
8 Cadière, “Croyances et Practiques religieuses des Annamites dans les environs de Hué. Le Culte des Pierres”, Bulletin de l'École Française d'Extrême-Orient (B.E.F.E.O.), Vol. XIX, No. 2/1919, 30.
10 Với giọng văn khá mỉa mai, Sallet thuật lại sự tích bệ thờ Ông Mốc ở Cẩm Lệ: “J’apporte ici une petite contribution à l’étude du culte des pierres en Annam. La pierre de Cẫm-Lệ était couchée dans un fossé, et comme son examen pouvait présenter quelque intérêt, je demandai aux autorités provinciales de vouloir bien la faire relever (au surplus cette pierre ne portait-elle pas les caractères “lập thạch” 立石?). Le village crut devoir faire mieux, et, quelques semaines après, je retrouvai la pierre dressée sur son socle maçonné. Un mois plus tard, sur ce socle étaient disposés des chapelets de fleurs, des papiers votifs et le vase habituel garni de sable où, piqués, achevaient de se consumer des bâtonnets d’encens : le vieux piédroit cham, la pierre-limite des Annamites, etait devenu “Ông-Mốc” 翁 木, “Monsieur le Terme”, et était honoré par les gens du village et plus encore par les voyageurs. Peut-être doit-on penser que les habitants de Cẫm-Lệ à cause de cet ordre venu de hauts fonctionnaires, avaient pu croire que puisque de grands mandarins lettrés et sérieux s'intéressaient au sort de cette pierre et réclamaient pour elle une attitude plus noble, il fallait bien qu’elle possédât une vertu et un pouvoir particulier”. Dẫn theo: Sallet, “Les Souvernirs Chams dans le Folk-lore et les Croyances Annamites du Quang-Nam”, B.A.V.H. No. 2/1923, 210.
Tạm dịch: “Ở đây, tôi xin đóng góp phần nhỏ cho việc nghiên cứu phong tục thờ đá ở Trung kỳ. Phiến đá tại Cẩm Lệ bị vùi dưới một cái mương, và thấy có thể dùng đá vào việc gì đó hữu ích, tôi yêu cầu chính quyền tỉnh nên trục nó lên (vả lại phiến đá này đâu có mang chữ “lập thạch” 立石?). Làng sở tại tin rằng cần phải dùng nó vào việc tốt hơn, và vài tuần sau đó, tôi thấy trụ đá được dựng trên bệ có tô vôi hẳn hoi. Một tháng sau đó, trên bệ thấy bày những bó hoa, giấy vàng mã và một cái lư đựng cát quen thuộc mà hương cắm đã cháy hết chỉ còn trơ cọng: trụ biểu cổ của Chăm, cột đá làm ranh giới của người An Nam, đã trở thành “Ông-Mốc” 翁 木, được dân làng và cả khách qua đường sùng bái. Phải chăng dân làng Cẩm Lệ vì từ mệnh lệnh của các quan trên, yên trí các quan trên vốn lắm chữ, nghiêm túc đã xem trọng phiến đá và đã đề cập về nó với một thái độ rất lịch lãm, nên chắc mẫm rằng nó phải ẩn chức một tư đức và một quyền năng đặc biệt”. 
Trước năm 1980, trụ Ông Mốc vẫn còn, nằm gần bến đò Nga, ranh giới giữa Khuê Trung và Cẩm Lệ, trên trụ có dòng chữ” 嘉隆十二年七月二十五日 (Gia Long thập nhị niên, thất nguyệt, nhị thập ngũ nhật: ngày 25 tháng 7 năm Gia Long thứ 12).
11 Miễu Linh Sơn ngày nay được gọi là miễu Bà, thuộc tổ 33 phường Hòa Thọ Đông. Sau năm 1975, Thần Thạch không còn nữa.
12 Cadière, Bài đã dẫn, 4 - 5. Quá trình “thiêng hóa” mỏm Đá Ông bên bờ sông Cẩm Lệ ngày nay diễn ra y chang như những gì mà linh mục L. Cadière miêu tả về mỏm “Đá nổi” bên bờ sông Thạch Hãn đoạn chảy qua làng Trinh Thạnh hơn 90 năm về trước. Hiện nay, tại Cẩm Lệ và một số nơi khác nữa, người ta tin rằng linh hồn của nạn nhân chết nước sẽ trú lại mỏm “Đá đen” và do đó mỏm Đá sẽ rất linh thiêng. Thân nhân của nạn nhân chết nước thường đến đây thắp hương khấn vái. Đặt trên mỏm Đá một tượng Phật Bà, người ta tin rằng Phật Bà sẽ phù hộ độ trì cho linh hồn của nạn nhân chết nước sớm được siêu thoát. Tóm lại, các linh hồn của những nạn nhân chết nước xem mỏm Đá là nhà và Phật Bà là người độ trì (!). Về phần pho tượng Phật Bà được đặt trên mỏm Đá, chúng tôi đã nghe vô số tin đồn thổi về sự linh thiêng của pho tượng này. Chả biết nó thiêng cỡ nào? Nhưng điều đó không thuộc phạm vi của bài viết, chúng tôi không tiện nêu ra. Đến tháng 12.2012, tượng Phật Bà đã được di dời về chùa Cẩm Nam.
14 “Cồn Dàng” là tên thường gọi những vùng đất cao có phế tích Chàm. Ngày nay, vị trí “cồn Dàng” là Khu di tích lịch sử văn hóa Khuê Trung bao gồm phế tích tháp Hóa Quê, giếng Chăm, miếu Bà, nhà thờ Tiền Hiền và nghĩa trủng Hòa Vang tại tổ 20 Bình Hòa, phường Khuê Trung.
16 Phỏng vấn ông Huỳnh Bá Hoàng, tổ trưởng tổ 34, phường Hòa Thọ Đông. Trường hợp thứ tư mới xảy ra gần đây, nên chúng tôi chưa có ghi nhận gì về sự “báo ứng” của vàng Hời.
17 Bức tượng Bồ tát Lakṣmīndra-Lokeśvara hiện đang được trưng bày tại Bảo tàng Chăm Đà Nẵng và đã được công nhận là Bảo vật quốc gia.
18 Trường hợp của ông Trà Văn X., chúng tôi trực tiếp chứng kiến, nếu có quý vị độc giả nào muốn xác minh thì có thể theo chúng tôi đến gặp ông Trà, nhà ông chỉ cách vị trí Tháp Sáng của Phật viện Đồng Dương 2 km.
19 Đầu thế kỷ XX, khu vực lân cận Tourane (Đà Nẵng) có một số đồn điền của các ông chủ: Tây Kho bạc anh (Camille Paris) ở Phong Lệ, Tây béo ở Hóa Quê, Tây Kho bạc em (Gravelle Paris) ở Nghi An, Tây Bertrand, Tây Hãng ở Phước Tường ….
20 Nguyên văn: “Peu de temps après, l'ancienne propriété de C. Paris à Phong-lệ, vendue d'abord à un Français, passait a un Chinois. Sur notre demande d'achat il fit aimablement don à l'Ecole des sculptures que C. Paris y avait rassemblées; elles provenaient pour la plupart des décombres d'un monument čam qui formait une butte dans les limites de sa concession et qui lui fournit les briques de l'habitation”. Dẫn theo: Parmentier, “Catalogue du Musée Čam de Tourane”, B.E.F.E.O., Vol. XIX, 1919, 5.
21 Parmentier, “Inventaire Descriptif des Monuments Čams de l’Annam”, Vol.1, (Paris: Presses de l'École Française d'Extrême-Orient (P.E.F.E.O..), Ernest Leroux, 1909), 319-324.
22, 23, 24, 28 Huber, “Études Indochinoises”, B.E.F.E.O, Vol. XI, 1911, 285, 286, 296, 297.
25 Theo kinh Vệ Đà, thần Bão tố Rudra là tiền thân của thần Siva, vị thần tối cao trong Ấn giáo.
27 Vào đầu thế kỷ thứ X, trên mảnh đất Amarāvatī (Quảng Nam, Đà Nẵng ngày nay) có các thành phố: Indrapura - kinh thành Thần Sấm sét (Đồng Dương); Simhapura - thành phố Sư tử (Trà Kiệu); Čampāpura - thành phố Chiêm Bà (Thanh Chiêm, Điện Bàn); Và những tác giả bài viết này phát hiện ra thêm một thành phố nữa, đó là Rudrapura - thành phố Thần Bão tố (Cẩm Lệ).
29 Parmentier, “Notes d'Archéologie Indochinoise I-VI”, B.E.F.E.O, Vol. XXIII, 1923, 274.
30 Đại Nam nhất thống chí (quyển XIII) do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn, chép núi Phước Tường 福 祥là Cẩm Lệ Sơn錦 荔 山.
31 Bronson, “Exchange at the Upstream and Downstream Ends: Notes Toward a Functional Model of the Coastal State in Southeast Asia”, Economic Exchange and Social Interaction in Southeast Asia: Perpectives from Prehistory, History, and Ethnography (Ann Arbor, 1977), 39-52.
32 Tương truyền, năm 1471, vua Lê Thánh Tông trên đường nam chinh đã cho đậu thuyền tại bến Nại Hiên để lấy nước ngọt từ giếng Bộng (giếng có niên đại thế kỷ X) [Theo gia phả tộc Nguyễn Thanh - Nại Hiên Tây do anh Nguyễn Thanh Định cung cấp]. Muộn nhất là từ cuối thế kỷ XV, người Trung Hoa đã gọi bến Nại Hiên (và cả khu vực Đà Nẵng) là Hiên cảng.
33 Làng Nại Hiên xưa bao gồm ba làng Nại Hiên Đông, Nại Hiên Tây và Nại Hiên Nam (Nại Nam).

Nguồn: Facebook

Be the first person to like this.
Be the first person to like this.