• Facebook
  • Yahoo
  • Google
  • Live
  • Twitter
  • Live
Kaka
by On April 4, 2012  in Văn hóa Champa / Lịch sử Champa /
0 rating 1,747 views 0 Likes 0 comments

Nghệ thuật múa Chăm - Những giá trị cần bảo tồn và phát huy

Nghệ thuật dân gian của mỗi dân tộc được coi như những viên ngọc đã được sàng lọc chau chuốt lâu đời qua thời gian, trong không gian và mang đậm tính bản sắc. Đối với dân tộc Chăm cũng vậy, nghệ thuật dân gian Chăm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng người

Tóm tắt. Nghệ thuật dân gian của mỗi dân tộc được coi như những viên ngọc đã được sàng lọc chau chuốt lâu đời qua thời gian, trong không gian và mang đậm tính bản sắc. Đối với dân tộc Chăm cũng vậy, nghệ thuật dân gian Chăm giữ một vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng người Chăm. Vì vậy, làm tốt công tác bảo tồn và phát huy các giá trị văn hoá dân gian Chăm là một trong những biện pháp có hiệu quả góp phần ổn định đời sống xã hội Chăm.

      Trong suốt quá trình lịch sử, người Chăm đã sáng tạo nên một nền văn hoá phát triển cao, một nền nghệ thuật dân gian đậm nét riêng. Ngoài những giá trị văn hoá vật thể như hệ thống đền đài,tháp cổ, những bức phù điêu, tượng đá, bia ký,… cộng đồng người Chăm hiện nay đang lưu giữ những giá trị văn hoá phi vật thể phong phú, đa dạng. Trong bài viết nhỏ này, tác giả chỉ xin đề cập đến nghệ thuật múa Chăm - một di sản văn hoá phi vật thể đặc sắc, độc đáo và hấp dẫn.

      Múa Chăm là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Chăm. Múa gắn liền với các lễ hội như: Rija Nưgar, Katê, Rija Praung,… ở mỗi làng hay trên tháp. Đó là những dịp mà người Chăm thể hiện sự tưởng nhớ của mình đối với những người có công xây dựng đất nước, hay sự sùng bái một - một vài vị vua được thần hoá. Đi kèm với múa là những nhạc cụ dân tộc truyền thống như: trống Ginăng, trống Baranưng, Ceng (chiêng), kèn Xaranai, Grong (lục lạc), đàn Kanhi,… Phổ biến hơn cả là bộ ba Ginăng, Baranưng và Xaranai, trong đó chủ đạo vẫn là Ginăng, vì chúng có âm mạnh mẽ, hùng hồn rất phù hợp trong dịp lễ hội, hơn thế nữa còn thể hiện được tính cách của người Chăm.

        Có thể phân múa Chăm làm 2 loại: Múa dân gian và múa cung đình

I. Múa dân gian

       Múa dân gian là một kho tàng nghệ thuật quý báu không chỉ của dân tộc Chăm mà còn của ViệtNam và nhân loại. Bên trong những điệu múa ấy, người ta có thể phần nào cảm nhận được tâm hồn đầy chất văn hoá biển, dạt dào và sôi động, không ít sự lãng mạn trong tâm hồn của dân tộc Chăm.

      Múa dân gian Chăm, còn gọi là múa cộng đồng, thường diễn ra vào các ngày lễ đầu năm, đầu mùa. Đa phần các điệu múa của người Chăm đều gắn liền với lễ hội, mà hệ thống lễ hội của người Chăm thì vô cùng phong phú. Mỗi điệu múa chứa đựng những nội dung khác nhau, nhưng đều phản ánh ước vọng của người Chăm trước thần linh, thân tộc, thiên nhiên và cộng đồng. Họ mong sao cho mưa thuận gió hoà, mùa màng được bội thu, cây cối tươi tốt, con cháu ấm no khoẻ mạnh, hạnh phúc, được sống yên ổn làm ăn và thờ phụng tổ tiên. Không chỉ gắn bó với lễ hội, múa dân gian Chăm còn gắn liền với những dịp trọng đại của gia đình như cưới xin, khánh thành nhà,…

      Trong nghệ thuật múa dân gian Chăm, múa “thiêng” chiếm giữ một vị trí quan trọng. Hầu hết các lễ hội Chăm đều có sự tham gia của các vũ sư như Ong Kaing (ông bóng), bà Muk Pajow (bà bóng khu vực tôn giáo), bà bóng Muk Rija (bà bóng của dòng họ), bản thân tên gọi chức sắc cũng đã là bà múa. Rija trong tiếng Chăm có nghĩa là múa.      

      Múa dân gian Chăm có các loại chính:

* Múa quạt (Tamia tadik): Một hình thức múa dân gian lâu đời. Dụng cụ chính là những chiếc quạt vải có rua nhiều màu sắc và khăn dài, xoè ra hay xếp lại cả cặp hoặc một xoè một xếp, tượng trưng cho những cánh chim như những điệu múa Piđiềng (chim công), Kamang (galôi), Marai (chim trĩ),…Có thể múa cá nhân trong các ngày lễ hay múa tập thể trong những ngày lễ hội. Múa quạt thể hiện tính chất rộn ràng, vui tươi, sống động. Chiếc quạt như tiếng nói thân tình, khi vui quạt rung lên, khi buồn thì úp xuống, lúc yêu đương lại duyên dáng đẩy đưa, khi nghĩa tình quạt sóng đôi bay lượn,…

 

 

 

* Múa đội lu (Tamia đwabuk): Xuất phát điểm là Múa đội Thong hala (cổ bồng trầu) trong lễ dâng nước thánh trên tháp, sau đó nó được kết hợp với thao tác đội lu nước trong sinh hoạt ngày thường, thành loại hình múa này. Múa Đwa buk có nhiều biến thái đẹp mắt, nhưng thao tác đặc sắc hơn cả là các cô gái thả cả hai tay, khi thì đứng lúc lại ngồi hay nghiêng mình dịu dàng, sâu lắng, tế nhị. Nhìn chung múa Đwa buk được người Chăm yêu thích vì nó thể hiện được khát vọng của người Chăm trên miền đất nắng hạn, cằn cỗi. Trong lễ nghi tín ngưỡng của người Chăm, chúng ta thấy sự có mặt của hầu hết các đạo cụ múa như quạt, khăn, roi,… nhưng lại không thấy hình ảnh của chiếc Buk tham gia vào trong những lễ nghi của họ. Điệu múa Đwa Buk được xem là điệu múa thuần Chăm nhất, nó được sử dụng trong sinh hoạt dân gian rất lâu đời của cộng đồng dân tộc Chăm.


* Múa khăn (Tamia tanhiak): Cũng là điệu múa dân gian lâu đời của dân tộc Chăm có mặt trong hầu khắp các sinh hoạt văn hoá. Những chiếc khăn đội đầu thường ngày của phụ nữ được đưa vào điệu múa với những biến hoá phong phú. Người nghệ sĩ cầm khăn, dùng cổ tay hất khăn lên lúc khoan thai, nhẹ nhàng khi mạnh mẽ, dứt khoát, lúc ẩn hiện, rộn ràng, theo nhịp điệu của nhạc. Múa khăn là điệu múa nêu bật được chủ đề ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của cô gái Chăm như những bông hoa đầy tự hào và quyến rũ. Chiếc khăn tượng trưng cho tấm lòng trong trắng, tinh khiết, đáng yêu của các cô gái Chăm. Chính vì thế chiếc khăn luôn là màu trắng.

* Múa dao: Điệu múa với dụng cụ là Carit, con dao có độ dài khoảng 40cm, hình xoắn ốc rất đẹp. Múa dao là điệu múa đã ăn sâu vào trong tâm hồn mỗi người dân và góp phần không nhỏ tạo nên nét đặc sắc của múa truyền thống Chăm, mang đậm phong cách văn hoá của cộng đồng người Chăm.

* Múa roi và múa đạp lửa (Tamia jwak apwei): Là điệu múa của nam giới, nó biểu hiện sự khoẻ khoắn, lòng quật cường có thể chiến thắng mọi chông gai thử thách. Nhịp điệu múa tượng trưng cho sự đấu tranh kiên cường, quyết vượt qua khó khăn, gian khổ, chiến thắng tà ma quỷ quái để dành lại cuộc sống thanh bình. Có thể nói, múa roi và múa đạp lửa là một bộ phận độc đáo trong di sản văn hoá Chăm. Mặc dù hiện nay có thể những điệu múa dân gian Chăm này không còn phổ biến nhưng tinh thần vũ đạo vẫn là dấu ấn in đậm trong đời sống của người Chăm. Ai đã từng thưởng thức múa Chăm, sẽ không thể không đắm lòng mình trong những vũ điệu huyền bí, quyến rũ này.

                                           

 

 

* Múa chèo thuyền (theo điệu trống Wah gaiy): Là điệu múa lâu đời nhất trong kho tàng nghệ thuật múa Chăm. Múa chèo thuyền là một tác phẩm phản ánh sinh hoạt lao động vùng biển của người Chăm với nội dung đầy tính nhân văn. Nó không chỉ miêu tả quá trình lao động trên biển của cư dân, mà còn đề cao đức độ con người, đồng thời khẳng định ý chí con người có thể chiến thắng mọi gian nan thử thách.          

* Múa âm dương (Tamia Klai Kluk): Người múa là nam, với khúc gỗ được đẽo như hình dương vật, múa dẫn đường, sau đó là các cặp nam nữ khác, vừa vui nhộn vừa linh thánh. Người Chăm quan niệm sống phải có âm, có dương nên kết cấu ngôn ngữ của từng động tác múa phải theo quy tắc cân đối, thượng hạ âm dương tương đồng. Sự cân đối không chỉ nằm trong không gian mà cân đối trong từng chi tiết động tác. Nếu một bên tay thượng thì phải có một bên chân hạ, hay tư thế bên dưới gối khuỳnh ra thì bên trên tay cũng phải khuỳnh ra, tay trên ngửa thì tay dưới úp,…                 

      


      Có thể nói, múa dân gian Chăm dựa trên bốn động tác cơ bản như: múa con công, múa con gà tây, múa quý phái và múa hoàng tử. Các nghệ nhân đã phát triển, biến hoá, kết hợp lại tạo thành những động tác múa hoàn chỉnh. Có thể xuyên suốt bài múa chỉ có bốn động tác chính mang tính chất quy nạp, chủ đạo nhưng vẫn tạo được ấn tượng độc đáo, cuốn hút người xem vào không khí linh thiêng, sâu thẳm nhưng chứa đầy ẩn vọng. Động tác tay có bốn động tác, còn động tác chân trong múa Chăm truyền thống chỉ có một bước nhún nhưng không thể thiếu, đây là yếu tố quan trọng tạo nên sự mềm mại, uyển chuyển của các điệu múa Chăm. Động tác nhún êm dịu, bồng bềnh như những đợt sóng nhẹ trên mặt biển mênh mông. Trong động tác chân có những nét phụ tô điểm cho những nhịp chính gây cảm giác lạ thường.                            

      Những phong cách múa dân gian Chăm còn được thể hiện sâu sắc, độc đáo trên các tác phẩm điêu khắc như Vũ nữ Trà Kiệu, Apsara và các tượng thần Ấn Độ giáo như Siva, Uma, Brahma, Visnu,... Ngôn ngữ điêu khắc là nguồn tư liệu đáng tin cậy, từ nguồn tư liệu câm lặng này có thể cho ta biết chắc chắn được rằng, người Chămpa cổ từ trong lịch sử họ đã có một nền nghệ thuật múa phát triển đa dạng. Các tác phẩm điêu khắc đã cung cấp không ít cứ liệu dù bằng đá mà như có da, có thịt. Bằng sự tĩnh lặng của đá mà như đang vận động, sức sống của nó không chỉ cho ta sự sao chép, sưu tầm đơn giản mà mang ý nghĩa khái quát tư tưởng, trừu tượng hoá khách quan. Đó chính là vẻ đẹp huyền diệu từ chính cái đẹp của con người, hợp nhất giữa ước mơ và hiện thực để tiến tới một tương lai tươi sáng.

II. Múa cung đình

      Từ rất sớm trong lịch sử, vương quốc Chămpa đã chịu ảnh hưởng sâu sắc của nền văn minh Ấn Độ, những di vật tìm thấy được trên vùng đất Chămpa cũ đã phần nào nói lên điều này. Theo đó, nghệ thuật múa Ấn Độ cũng được du nhập vào Chămpa, nhưng cụ thể vào thời điểm nào thì không có tư liệu nào nhắc đến. Tuy nhiên, hình tượng các vũ nữ trên bệ thờ ở Trà Kiệu được trưng bày ở bảo tàng điêu khắc Chăm Đà Nẵng (thế kỷ VII - VIII) đã chứng minh cho sự xuất hiện một lĩnh vực nghệ thuật của Ấn Độ ở Chămpa lúc bấy giờ. Chủ đề tác phẩm là minh hoạ tác phẩm Bhayavatapurana của Ấn Độ. Lĩnh vực ca múa và những người tiếp thu nền vũ đạo Ấn Độ trước hết chính là tầng lớp quý tộc bên trên. Như vậy từ chỗ đóng vai trò nghệ thuật phục vụ tôn giáo trong văn hoá Ấn Độ, vũ đạo đã trở thành loại hình nghệ thuật được coi trọng trong cung đình Chămpa cổ. Điều này hoàn toàn trái với quan niệm của các triều đại phong kiến Đại Việt ở phương Bắc, đặc biệt từ triều hậu Lê trở về trước, vốn rất coi khinh những người hành nghề ca múa, như trường hợp Đào Duy Từ chẳng hạn. Việc nghệ thuật múa được coi trọng trong cung đình Chămpa cổ cũng phần nào lí giải vì sao phần lớn các tác phẩm người múa đều được trang trí ở phần thượng tầng của các kiến trúc của tháp Chăm.

 


      

      Vào đầu Công nguyên, trong cuốn Lý thuyết về múa hát Natyashatra của Bharada đã liệt kê có 24 động tác một tay, 13 động tác hai tay; còn cuốn Abhinaya Darapanam của Nadikesvars thì có đến 28 động tác một tay và 23 động tác hai tay. Theo NSND Đặng Hùng, qua những tác phẩm điêu khắc Chămpa xưa, ông “ giải mã” chúng, rút tỉa tổng hợp được 8 thế tay và 4 thế chân. Điều đó chứng tỏ, trong vũ đạo, đôi tay thể hiện tất cả sắc độ tinh tế của tư duy, tình cảm, mỗi vũ điệu có những cách biểu đạt khác nhau. Tuy vậy, có thể suy đoán rằng, trong buổi đầu tiếp cận nghệ thuật Ấn Độ, nghệ thuật múa Chămpa cũng không ngoài mục đích thể hiện tôn giáo và vương quyền. Đối với các vị thần linh, ý nghĩa của từng động tác tay và những binh khí, mang biểu trưng quyền lực; còn đối với những tiên nữ Apsara là sự dâng lễ, kính chào thần hoặc chúc mừng. Có thể nói, trong nghệ thuật múa Chăm, đôi tay là sự biểu đạt cao nhất trong việc thể hiện nội dung và phong cách của một vũ điệu. Nhận xét về động tác đôi tay trong vũ đạo phương Đông, một nhà nghiên cứu phương Tây cho rằng “đó là một khoa học để phục vụ sân khấu”. Theo nghĩa đó, từng động tác tay trong vũ điệu mang một ý nghĩa tượng trưng và biểu đạt vô cùng to lớn mà để hiểu được nó một cách cụ thể và sâu sắc, cần phải có sự tìm hiểu và đối chiếu từ nhiều nguồn tư liệu.   

      Múa cung đình là một bộ phận quan trọng trong đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Chăm. Mặc dù trải qua bao thăng trầm của lịch sử, bị lớp bụi thời gian phủ lấp, nhưng nghệ thuật múa cung đình Chăm như những viên ngọc quý vẫn âm thầm tồn tại và sáng mãi với thời gian. Vũ điệu cung đình có khi là bản nhạc trầm hùng sâu lắng, nhưng có lúc lại nhẹ nhàng thiết tha. Thế nhưng tất cả đều thể hiện tình cảm sâu sắc trong tâm hồn của mỗi người dân trong cộng đồng người Chăm.

      

 

 

      Tóm lại, múa Chăm là một bộ phận độc đáo trong di sản văn hoá Chăm. Thời gian qua, nó đã được bảo tồn và phát huy đúng mực, phần nào thoả mãn được nhu cầu sáng tạo và thưởng thức nghệ thuật của quần chúng Chăm. Với sự say mê nghệ thuật và sự đầu tư nghiên cứu đúng mức, các điệu múa Chăm ngày càng được phát triển theo hướng lành mạnh. Các đoàn nghệ thuật múa hát trước đây vốn phải chật vật để duy trì sự tồn tại của mình đã tìm được con đường riêng để có thể đứng vững được trong thời đại kinh tế thị trường. Tuy nhiên, hiện nay có một thực tế là những tư liệu của văn hoá dân gian Chăm, trong đó có nghệ thuật múa đang thất truyền hàng ngày hàng giờ. Những nghệ nhân Chăm nổi tiếng, đa tài đã ra đi và vĩnh viễn mang theo những điệu múa và phong cách tuyệt vời có một không hai. Nguy cơ mai một những tư liệu nghệ thuật múa dân gian Chăm là rất lớn. Vì vậy, cần tăng cường hơn nữa vào việc đầu tư nghiên cứu, bảo tồn và phát huy văn hoá nghệ thuật múa Chăm. Cần phải có những định hướng phù hợp để múa Chăm phát triển theo con đường riêng của nó, độc đáo và mang đậm sắc thái Chăm, góp phần vào việc củng cố nền tảng tinh thần xã hội của các dân tộc Việt Nam.

      Thiên di theo dòng lịch sử, hiện nay người Chăm còn sống rải rác ở các tỉnh Ninh Thuận, Bình Thuận, Tây Ninh, Đồng Nai,... với tỷ lệ nhỏ. Mặc dù vậy nhưng tinh thần vũ đạo vẫn là dấu ấn in đậm trong đời sống của người Chăm. Đặc biệt, cho đến nay sức lan toả của nó dường như đã bất biến với thời gian, trong không gian dù hữu thức hay vô thức. Ví như trong nghệ thuật múa Thanh Hoá đã mang hơi thở của vũ điệu Chăm qua những điệu múa khăn duyên dáng đẩy đưa, múa quạt rộn ràng, vui tươi, sống động. Đối với Nghệ An, vũ điệu Chăm vẫn còn rơi rớt lại trong những điệu múa dân gian truyền thống như múa khăn, múa chèo thuyền,... đặc biệt vũ hưởng của Chăm qua vũ điệu chim Công, vũ điệu Thiên Nga cũng đủ cho chúng ta thấy rằng cái thiêng, chất thiêng huyền bí quyến rũ của vũ điệu Chăm toả ra khỏi biên giới. Nhờ tính chất ấy mà nghệ thuật múa Chăm luôn có chỗ đứng trong lòng công chúng thưởng ngoạn. Đây là loại hình dân vũ đã vượt thoát khỏi ranh giới giữa người sáng tác và công chúng thưởng lãm, biểu thị cái thiêng huyền bí quyến rũ được phát ra từ tâm con người, đạt đến sự thăng hoa trong ý tưởng, cuộc sống.

      Có thể nói, múa Chăm là một kho tàng nghệ thuật quý báu không chỉ của dân tộc Chăm mà còn của Việt Nam và nhân loại. Vì vậy, công tác bảo tồn và phát huy nghệ thuật múa Chăm hiện nay đang được xem là một trong những vấn đề “nóng” có tính thời đại. Đặc biệt, công nghiệp hoá, hiện đại hoá và quốc tế hoá là những xu hướng đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam hiện nay, nghệ thuật múa truyền thống của các dân tộc ở Việt Nam nói chung và nghệ thuật múa Chăm nói riêng đang đứng trước những thử thách của thời đại. Những thử thách này đã làm bộc lộ rõ những mặt mạnh và yếu trong nghệ thuật múa của từng dân tộc, qua đó cho thấy sức sống dân vũ của mỗi dân tộc trong quá trình tương tác giữa dân vũ nội sinh và dân vũ ngoại sinh. Nền dân vũ nào đủ sức “nội sinh hoá” các nhân tố dân vũ ngoại sinh là nền dân vũ đó đủ bản lĩnh để tồn tại và phát triển. Hoà mình nhưng không bị đồng hoá, du nhập tinh hoa dân vũ từ bên ngoài mà không đánh mất tính cách riêng của dân tộc mình, đó là một thử thách có tính thời đại đặt ra cho mọi dân tộc trong quá trình hội nhập với văn hoá dân vũ khu vực và văn hoá dân vũ thế giới.  

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

[1] Phan Xuân Biên, Phan Anh, Phan Văn Dốp, Văn hoá Chăm, Viện

      khoa học xã hội TPHCM, NXB KHXH, 1991.

[2] Chămpaka, Nghiên cứu nền văn minh Chămpa, tập1, 1999.

[3] Inrasara, Văn hoá - xã hội Chăm, Nghiên cứu và đối thoại, NXB Văn

      Học, 2003.

[4] Pham Đức Dương, Văn hoá Việt Nam trong bối cảnh Đông Nam Á

      NXB KHXH, Hà Nội, 2000.

[5] Phan Huy Lê, Tìm về cuội nguồn, tập1, NXB Thế giới, Hà Nội, 1998.

[6] Phan Huy Lê, Tìm về cuội nguồn, tập2, NXB Thế giới, Hà Nội, 1998.

[7] Ngô Văn Doanh, Văn hoá Chămpa, NXB VHTT, Hà Nội, 1994.

[8] Nguyễn Duy Chinh, Chămpa -  Núi xanh nay vẫn còn đó, Thư viện

      Viễn Du, 2005.

[9] Tổng hợp, Văn hoá Chăm, Tạp chí Khoa học Xã hội - Số Chuyên đề -

      11/96. 

theo ngheandost.gov.vn

0
Total votes: 0
Kaka
Thích học hỏi, muốn làm một chút gì đó cho cộng đồng, văn hóa xh của mình...
Be the first person to like this.

It will be interesting:

By: On October 8, 2017
0 rating 212 views 0 likes 0 comments
Read more
By: On October 15, 2012
0 rating 1.7k+ views 8 likes 0 comments
Read more
By: On November 30, 2017
0 rating 754 views 0 likes 0 comments
Read more
Page generated in 0.5453 seconds with 86 queries and GZIP enabled on 23.91.70.23.