• Facebook
  • Yahoo
  • Google
  • Live
  • Twitter
  • Live
0 rating 521 views 0 Likes 0 comments

HÃY CHỬI TRUNG QUỐC... NHƯNG BẢN CHẤT CỦA CHÚNG TA CŨNG GIỐNG HỌ!?
PHẦN I: TÍNH HIẾU CHIẾN & BẢN CHẤT ĐẾ QUỐC – VIỆT NAM TỪNG LÀ MỘT ĐẾ QUỐC XÂM LƯỢC
(Bài viết gửi tặng Doanh nhân Cuong Phan)

Có một sự thật chúng ta không thể phủ nhận rằng “người Việt Nam rất ghét Trung Quốc”, ghét từ trong trứng nước ghét ra chứ không phải ghét từ ngã ba ngã bảy ghét vào. Nhưng bạn có biết rằng về “bản chất”, người Việt và người Hoa rất giống nhau!? Điều này cũng dễ hiểu thôi, vì “thường những người có thói xấu giống nhau thì rất ghét nhau” nó tồn tại như một quy luật bất biến. Nếu liệt kê tất cả những điểm tương đồng giữa hai “anh em” Việt – Trung ra thì ngồi nói cả tháng cũng không hết, nên tôi quyết định viết một loạt bài về chủ đề này. Số đầu tiên sẽ nói về bản chất Đế quốc và tính hiếu chiến, từ đó bạn cũng sẽ thấy được bản chất mưu mô, cơ hội, lươn lẹo, hay lấp liếm và lòng tham không đáy của người Việt – Một sự thật mà ít người dám thừa nhận.

Bạn có biết rằng trong lịch sử của dân tộc Việt Nam có một khoảng “lặng” rất lớn mà chúng ta dường như không được học và cũng rất ít người biết!? Đó là: Việt Nam từng trở thành một đế quốc xâm lược. Lãnh thổ của Việt Nam từng rộng lớn hơn rất nhiều so với những gì chúng ta đang sở hữu hiện nay. Và các bạn cũng sẽ thấy rằng, trong hơn 4000 năm lịch sử, người Việt Nam không chỉ “bảo vệ đất nước” như sách giáo khoa viết. Việt Nam còn là một đế quốc, một kẻ hiếu chiến, một đạo quân xâm lược và đi nô dịch các dân tộc khác, mà lịch sử Việt Nam đã hợp thức hoá bằng khái niệm “Nam Tiến (mở rộng lãnh thổ về phía Nam)”. Có ai nhận ra sự khôi hài trong khái niệm này không!? nếu Trung Quốc, Pháp, Mỹ, Nhật đánh ta, cướp đất của ta thì ta gọi bọn nó là đế quốc – thực dân – phát xít, bọn khát máu… Nhưng khi ta đưa quân đi xâm lược, xoá sổ cả một đất nước có lịch sử lập quốc hơn 1.500 năm khỏi bản đồ thế giới, thiêu huỷ gần như toàn bộ một nền văn hoá được xây dựng từ 1000 năm trước công nguyên thì được gọi là “mở mang bờ cõi”. Khả năng “lấp liếm” của người Việt Nam không hề thua Trung Quốc một tẹo nào cả.

TƯ DUY BÀNH TRƯỚNG LÃNH THỔ: 
Vì phải làm anh em với một tên đế quốc hùng mạnh là Trung Hoa, nên người Việt luôn phải chuẩn bị tư thế sẵn sàng chiến tranh để vệ quốc, nhưng nếu có cơ hội thì ngay lập tức chúng ta trỗi dậy thành một đế quốc đúng nghĩa, tuy không thể là một hiểm hoạ đối với các vương triều phương Bắc, nhưng Việt Nam luôn là một mối đe doạ đáng sợ đối với các quốc gia còn lại xung quanh mình. Việt Nam rất giống Trung Quốc về tư duy mở rộng lãnh thổ, đó là “Bắc thủ - Nam tiến”. Trên thực tế, để bảo đảm không gian sinh tồn thì bất cứ dân tộc nào cũng phải phòng ngừa kẻ mạnh và thâu tóm kẻ yếu - Việt Nam không nằm ngoài quy luật đó.

Năm 938, Ngô Quyền đại thắng quân Nam Hán trên sông Bạch Đằng và chính thức chấm dứt thời kỳ hơn 1000 năm Bắc thuộc, thì người Việt bắc đầu xây dựng những vương triều đúng bản chất phong kiến đầu tiên. Lãnh thổ của chúng ta chỉ gói gọn ở Đồng bằng Sông Hồng cho đến phía Nam tỉnh Hà Tĩnh ngày nay, còn trên thực tế các vùng núi và trung du phía Bắc Việt Nam là lãnh thổ tự trị của các dân tộc thiểu số mà các vương triều Việt Nam kiểm soát có phần hạn chế, nếu gộp tất cả lãnh thổ kiểm soát chính thức và cả bán chính thức thì chỉ gần 111.000 Km2, có nghĩa là chưa tới 1/3 diện tích của nước CHXHCN Việt Nam hiện nay (331,212 Km2).

Trong hơn 700 năm “Nam tiến”, người Việt đã xoá sổ vương quốc Chiêm Thành với tuổi đời lập quốc hơn 1500 năm (192 – 1697) sáp nhập toàn bộ hơn 123.000 Km2 diện tích của vương quốc này vào lãnh thổ của mình. Chịu chung số phận với Chiêm Thành là Chân Lạp (Campuchia ngày nay), họ đã mất lãnh thổ Thuỷ Chân Lạp với diện tích hơn 64.000 Km2 vào tay Đại Việt, nhưng thật may mắn Chân Lạp đã thoát khỏi việc bị xoá tên khỏi bản đồ thế giới trong gang tấc. Ngoài ra cũng có một quốc gia mém chút nữa bị vó ngựa Đại Việt làm thịt, đó là Lao Ai (nước CHDCND Lào ngày nay).

Dưới thời trị vì của vua Minh Mạng hoàng đế (Nhà Nguyễn), lãnh thổ của Việt Nam đạt đến cực đại, với tổng diện tích lên đến 570.000 Km2, bao cả gồm 3/5 diện tích nước CHDCND Lào và 2/3 diện tích của Campuchia ngày nay. Với diện tích này Việt Nam còn rộng lớn hơn cả Cộng hoà Ý và Vương quốc Anh cộng lại.

KHAI TỬ MỘT ĐẤT NƯỚC:
Giai đoạn rõ ràng nhất để xem Việt Nam như một đế quốc là dưới thời trị vì của vua Thánh Tông hoàng đế Lê Tư Thành, vị vua thứ 4 của Nhà Lê Sơ (1442 – 1497). Dưới thời trị vì của ông, nước Đại Việt trở nên hùng mạnh nhất trong lịch sử về cả mặt kinh tế, giáo dục và chính trị, khiến cho Đế quốc Minh phải khúm núm, còn những đất nước xung quanh lần lược đều bị “mần thịt”. Vó ngựa của đế quốc Đại Việt đã xâm lược Chiêm Thành vào năm 1471, lãnh thổ của Chiêm Thành từ Đèo Hải Vân (Quảng Nam – Đà Nẵng) đến Núi đá Bia (Bắc Phú Yên), bị sáp nhập vào Đại Việt, kinh đô Đồ Bàn bị thiêu huỷ, phần lãnh thổ còn lại của Chiêm Thành bị chia ra thành 3 tiểu quốc để triệt tiêu khả năng phục hưng của người Chăm. Từ đó vương quốc Chiêm Thành không thể hùng mạnh trở lại được nữa. Dưới thời các Chúa Nguyễn, lãnh thổ của họ tiếp tục bị xâm chiếm và mất đi, cho đến lúc chỉ còn lại Thuận Thành trấn, một lãnh thổ tự trị, và đến năm 1832 dưới thời vua Minh Mạng của Nhà Nguyễn thì nó cũng bị xoá sổ, vương quốc Champa chỉ còn là ký ức và phế tích. Âu cũng là một quy luật bất biến của tự nhiên, mạnh thì phát triển còn yếu thì bị thâu tóm, tuy nhiên nhìn lại thì quá đổi đau thương...

HUỶ HOẠI MỘT NỀN VĂN HOÁ:
Sau cuộc xâm lược của đế quốc Đại Việt vào năm 1471, số phận của dân tộc Champa vô cùng bi thảm, nó đã được khắc hoạ một phần trong bài hát “Hận Đồ Bàn” sau này. Bản chất đế quốc của người Việt ở thời đại này rất giống Trung Quốc trong 1000 năm Bắc thuộc. Sau khi biến lãnh thổ phía Bắc Chiêm Thành trở thành quận, huyện, thì Đại Việt bắt đầu công cuộc đồng hoá người chăm trên lãnh thổ vừa chiếm. Một bộ phận người Chăm không chịu thần phục dưới sự cai trị của người Việt đã di cư sang Mã Lai và Chân Lạp (Campuchia ngày nay), tôi xem họ như là dân tộc Do Thái của Đông Nam Á. Bạn hãy nghĩ xem, một nền văn hoá được xây dựng trong hơn trong 3000 năm đã bị phá huỷ gần như không còn gì cả. Hiện bạn chỉ còn thấy những phế tích rải rác, đền tháp Chăm ở khu vực Miền Trung Việt Nam, người Chăm từng có dân số gần như tương đương với người Việt, giờ chỉ còn là một dân tộc thiểu số với số dân chỉ 162.000 người, sống quần cư trong những ngôi làng nhỏ, rải rác chủ yếu ở 2 tỉnh Ninh Thuận và Bình Thuận, một số ở An Giang và Tây Ninh. Số người Chăm đang phiêu bạc ở các nơi khác trên thế giới còn đông hơn cả đồng bào của họ ở quê hương, ước chừng khoảng 250.000 người. Việc khai quật và bảo tồn văn hoá Chăm được bắt đầu dưới thời Pháp độ hộ bởi những nhà khảo cổ học người châu Âu ở Viện Viễn Đông Bác Cổ. Quá trình bảo tồn và phát huy văn hoá Chăm tiếp tục được kế thừa và phát huy bởi chính phủ CHXHCN Việt Nam sau này phần nào đó giúp phục hồi nền văn hoá đồ sộ này.

GIEO BI THƯƠNG CHO MỘT DÂN TỘC:
Số phận của người tỵ nạn Chiêm Thành tưởng đâu sẽ tốt hơn khi rời bỏ quê hương, nhưng ai ngờ đâu thêm muôn phần bi thương, vì họ bị các nước sở tại chèn ép, ghét bó, đặc biệt là người Chăm tại Chân Lạp (Campuchia ngày nay). Trong sách Đại Nam thực lục có viết thế này: vua Chey Chetta V (Nặc Nguyên) của Chân Lạp thường xuyên hiếp đáp và quấy nhiễu người Côn Man (người Chăm) định cư trên lãnh thổ của mình. Mùa Đông năm 1753, Chúa Vũ Vương lấy lý do đó sai Thiên Chính làm thống suất và Nguyễn Cư Trinh làm tham mưu, dẫn tướng sĩ 5 dinh đi chinh phạt Chân Lạp và giải cứu người Chăm.

Nhưng trên thực tế cuộc chinh phạt giải cứu người Chăm là một mưu đồ vô cùng thâm hiểm. Sau khi đánh bại quân Chân Lạp, Nguyễn Cư Trinh đã trình lên chúa Nguyễn chiến lược “Tằm ăn dâu”. Trong kế này có việc đưa người Chăm từ Chân Lạp về định cư ở biên giới Việt – Chân Lạp để dùng họ giữ đất, ngăn chặn việc Chân Lạp tái diễn gây hấn nơi biên giới, làm tiền đề cho công cuộc Nam Tiến để thôn tính vùng Thuỷ Chân Lạp (Miền Tây Nam Bộ Việt Nam ngày nay). Mốc sự kiện này cũng phần nào lý giải tại sao hiện nay lại có các làng người Chăm ở vùng biên Tây Ninh và An Giang.

HỌC THEO CÁCH CỦA TÊN BẠO CHÚA THÀNH TỔ CHU ĐỆ CỦA NHÀ MINH (CHINA) ĐỂ HÒNG XOÁ SỔ NƯỚC CHÂN LẠP:
Từ thời các Chúa Nguyễn, vương quốc Chân Lạp đã phải thần phục như một phiên thần với Việt Nam. Sau khi nước Chiêm Thành mất thì Chân Lạp rơi vào tầm ngắm của người Việt. Từ cuộc hôn nhân của Công nữ Ngọc Vạn với vua Chey Chetta II năm 1620 đên năm 1757, chỉ với 137 năm, các Chúa Nguyễn đã lần lược thuộc địa hoá vùng Thuỷ Chân Lạp với diện tích hơn 64.000 Km2, ngày nay tương đương với miền Đông Nam Bộ và Đồng bằng Sông Cửu Long của Việt Nam.
Tổ tiên của ta thực sự có một lòng tham không đáy. Người Việt không chỉ muốn 64.000 Km2 mà muốn toàn bộ đất nước Chân Lạp. Rồi một ngày, thời cơ xoá sổ Chân Lạp cũng đã đến, năm 1835 vua Anchan II mất mà không có con trai nối dõi, quan Tổng đốc An Giang là Trương Minh Giảng đã mật tấu với vua Minh Mạng nên lấy lý do này để xoá bỏ vương quốc Chân Lạp, lấy đất lập ra Trấn Tây Thành và vua Minh Mạng đã nghe theo, đưa quan quân đến đặt chế độ đô hộ, hòng tiếp tục thuộc địa hoá Lục Chân Lạp (phần lớn lãnh thổ Campuchia ngày nay). Nước Chân Lạp tưởng chừng như sẽ bị khai tử như Chiêm Thành, nhưng may mắn thay, sau khi vua Minh Mạng băng hà vào năm 1841, vua mới của Nhà Nguyễn là Thiệu Trị hoàng đế đã cho rút quân khỏi Trấn Tây Thành, trả đất lại cho người Chân Lạp sau một thời gian dài người Khmer khởi nghĩa phản đối sự đô hộ của người Việt trên lãnh thổ của họ.
Có ai phát hiện ra thủ đoạn của vua Minh Mạng trong vụ thôn tính Chân Lạp giống với âm mưu đô hộ Việt Nam của tên bạo chúa Minh Thành Tổ Chu Đệ không!? Sau khi đánh bại Nhà Hồ vào năm 1407, lấy lý do Nhà Trần không còn người kế vị nên vua Minh Thành Tổ đã biến Việt Nam thành quận, huyện của Trung Quốc, bắt đầu cho 20 năm đô hộ và phá huỷ nền văn minh Đại Việt được tạo dựng trong 400 năm dưới thời Lý – Trần.

 

Ps: Thực sự rất cảm ơn Chính phủ Việt Nam vì những chính sách giúp bảo tồn và phát huy văn hoá Chăm, hỗ trợ và khích lệ sự phát triển lành mạnh của cộng đồng các dân tộc thiểu số nói chung. Đặc biệt là việc cho biên bộ sử khẳng định Văn hoá của Việt Nam được tạo dừng từ 3 trụ cột: Văn hoá Đông Sơn (người Việt), Văn hoá Sa Huỳnh (người Chăm) và Văn hoá Óc Eo (người Phù Nam), điều này đã tái khẳng định giá trị bất biến của văn hoá Chăm trong lòng dân tộc Việt Nam. Giá trị của sự thật không bao giờ thay đổi, nhìn vào sự thật để hiểu đúng về nhau hơn.

 

 

Nguồn: https://www.facebook.com/duonganhvu.vn/posts/907568429447103

0
Total votes: 0
kevin cham
User not write anything about he.
Be the first person to like this.

It will be interesting: