0 Rating 777 views 2 Likes 0 comments

Dịch sang tiếng Việt bài viết với nhiều chi tiết về sự liên hệ giữa người Chàm và người Mã Lai trong lịch sữ xưa và nay. 
Maryland ngày 19 tháng 12 năm 2017
Ysa Cosiem (Facebook)

---------

Người Chàm (越南占族)
(http://georgetownstreet.blogspot.com.au/…/…/cham-people.html)

Sự tương đồng của ngôn ngữ Chàm Campuchia và ngôn ngữ Malay có thể được tìm thấy trong các địa danh như Kampong Cham, Kambujadesa, Kampong Chnang, và Sejarah Melayu đã nói rõ có một cộng đồng người Chăm ở Parameswara của Malacca trong những năm của thế kỷ thứ 15 (1400's).

Ngôn ngữ Chăm thuộc nhóm ngôn ngữ Malayo-Polynesian của Malaysia, Indonesia, Madagascar và Philippines. Vào những năm giữa thế kỹ XV (1400's), khi Chăm bị đánh bại nặng nề bởi người Việt Nam, khoảng 120.000 người đã bị giết và trong những năm của thế kỷ XVII (1600's), vua Champa đã cải đạo sang Hồi giáo. Vào những năm của thế kỷ thứ 18 (1700's), vị vua Hồi giáo Champa tên Pô Chien đã tập hợp người của mình và di chuyển về phía Nam tới Campuchia, trong khi những người sống dọc theo bờ biển thì di cư đến bán đảo gần nhất thuộc bang Terengganu, khoảng đường cở 500 km hoặc ngắn hơn nếu đi bằng thuyền, và bang Kelantan.

Hiến pháp Malaysia thừa nhận quyền của Cham đối với quốc tịch Malaysia và tình trạng Bumiputera* (bản địa) của họ. Giờ đây, lịch sử có mối liên hệ với nhau, có khả năng là gia đình dòng họ Parameswara là những người tị nạn Chàm đã chạy trốn đến Palembang trước khi chạy trốn đến vùng Tumasik, và cuối cùng đến Malacca. Thật thú vị, một trong những vị vua cuối cùng của Angkor của đế chế Khmer cũng mang tên Paramesvarapada.

Vương quốc Champa (từ thế kỷ thứ VII tới năm 1832)

Vương quốc Champa (占城, 又称 占 婆, 占 波) lập quốc từ thế kỷ thứ 2 và kéo dài cho đến thế kỷ 17. Champa bao gồm các tỉnh Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Mặc dù lãnh thổ Chăm bao gồm các vùng miền núi phía tây đồng bằng ven biển và đôi khi mở rộng sang Lào ngày nay, phần lớn người Chăm vẫn là những người đi biển chuyên kinh doanh và duy trì một số khu định cư ở bất kỳ kích cỡ nào khác ngoài bờ biển. Người dân là của Malayo-Polynesian cổ phiếu với nền văn minh Ấn giáo. Khi Hồi giáo đến, vài người Champa đã chấp nhận nó. Tuy nhiên, vào khoảng gìũa những năm 1607 tới 1676, vua Champa trở thành người Hồi giáo, do đó hầu hết người dân của ông ta cũng phải theo Hồi giáo.

Vương quốc Champa trong lịch sử bao gồm năm khu vực chính:
1. Indrapura ("Thành phố Indra"),
2. Amaravati
3. Vijaya
4. Kauthara
5. Panduranga

Trong suốt thế kỷ, các vùng lảnh thổ của VQ Champa bị sáp nhập dần dần cho đến lúc cuối cùng, vào thế kỷ 17 thì các vùng lảnh thổ đó đã bị Đại Việt (người Việt) chiếm mất hoàn toàn. Tiếp theo sau đó là bắt đầu cho sự suy tàn dần dần dưới áp lực của Đại Việt mà trung tâm chính trị qyền lực tập trung ở khu vực mà ngày nay là Hà Nội. Năm 1471, quân đội Việt tàn phá kinh đô Vijaya, miền Bắc của Chăm, và vào năm 1697, địa phận phía Nam của Panduranga đã trở thành một chư hầu của hoàng đế Việt Nam. Năm 1832, vua Minh Mạng của Đại Việt (明 命, 1791-1841, tên húy là Nguyễn Phúc Đảm 阮 福 膽, còn được gọi là Nguyễn Phúc Kiểu 阮 福 晈, ông là vị vua thứ hai của triều Nguyễn, trị vì từ ngày 14 tháng 2 năm 1820 đến ngày 20 tháng 1 năm 1841) đã sát nhập lãnh thổ Chàm còn lại là Panduranga, ngày nay gọi là Phan Rang thuộc tỉnh Ninh Thuận, là vùng cuối cùng của VQ Chàm bị người Việt Nam sáp nhập.

Trong thời Minh Mạng, nước Chăm đã bị giết hại một cách tàn nhẩn. Vì thế vị vua Hồi giáo Chămpa cuối cùng, Pô Chien, đã quyết định thu gom người của mình (những người ở lục địa) và di cư về phía nam tới Campuchia. Trong khi những người ở gần bờ biển thì di cư đến Trengganu (Mã Lai). Vùng đất mà nhà vua và các dân thường định cư vẫn còn được biết đến ngày nay là Kompong Cham. Họ không tập trung ở một khu vực nhưng rải rác dọc sông Mekong ở Việt Nam, tạo thành 13 làng dọc theo đó. Suốt mấy năm, con cái của họ đã được gửi đến Kelantan (Malaysia) để học kinh Qur'an và giáo lý Hồi giáo. Sau khi các nghiên cứu được hoàn thành, những người này sau đó trở về nhà để dạy lại cho những người khác, trong 13 làng. Ngoài ra, một yếu tố khác giúp họ duy trì giáo huấn đúng đắn của đạo Hồi là sự tương tác giữa họ và những thương nhân người Mã Lai đạo Hồi giáo đã đi thuyền trên sông Mêkông.

Không phải tất cả người Hồi giáo Chămpa di cư với nhà vua. Một nhóm ở lại Nha Trang, Phan Rang, Phan Rí, và Phan Thịết (miền Trung). Với sự cô lập ngày càng tăng của họ với những người Hồi giáo khác, họ đã bắt đầu hòa trộn Hồi giáo với Phật giáo, Hindism và Bà La Môn. Do đó, hậu duệ của họ đã bị mất với những giáo lý đúng đắn của đạo Hồi. Năm 1959, những người kế vị này tiếp xúc với những người Hồi giáo Chămpa ở Châu Ðốc (một trong 13 làng ở miền Nam Việt Nam) và cộng đồng Hồi giáo ở Sài Gòn (thành phố Hồ Chí Minh). Cộng đồng Hồi giáo ở Sài Gòn, chủ yếu gồm người Ấn Độ, Pakistan, Malaysian, Indonesia và Ả Rập. Kết quả của sự tương tác này, các hậu duệ trước kia đã mất Hồi giáo bắt đầu trở lại Hồi giáo chân chính.
Sau ngày 30 tháng 4 năm 1975, trong khi đa số người Hồi giáo Việt Nam vẫn còn ở Việt Nam dưới chế độ cộng sản, một số lượng lớn họ đã trốn thoát sang các nước khác. Phần lớn họ định cư ở Mỹ, Pháp, Malaysia, Ấn Độ, Canada và một số ít ở Úc.

(i) Thương mại giữa Champa và Malacca
Trong một lần dừng chân tại Pulo Ubi gần Vịnh Xiêm La vào ngày 13 tháng 5 năm 1687, William Dampier, du hành người Anh, đã gặp một chiếc tàu có nguồn gốc Champa nằm neo ở phía đông đảo. Tàu chở gạo và sơn mài và đang trên đường đến Malacca. Tất cả bốn mươi thủy thủ đoàn là người Chăm. Họ mang những thanh gươm bản to, thương, và súng. Dampier đã viết rằng người Chăm đã tích cực tham gia vào thương mại với người Hà Lan tại Malacca. Sejarah Melayu (Biên niên sử Malay) đề cập đến sự hiện diện của người Chăm ở Malacca trong thời trị vì của các vị vua Mã Lai. Họ được biết đến là những người tị nạn chính trị đã đến Malacca sau năm 1471. Họ đã được các nhà cai trị Malacca đón nhận, đã bổ nhiệm một số quý tộc Chăm lên các vị trí chính thức tại tòa án. Bằng cách nhấn mạnh sự hiện diện của người Chăm ở Malacca, Marrison đã chú ý đến thực tế rằng người Chăm có lẽ đã góp phần vào sự phụ thuộc chủng tộc của người Mã Lai bán đảo và do đó một số ảnh hưởng của người Chăm có thể đã tồn tại trong truyền thống văn hoá Mã Lai. Malacca là điểm đến trong cộng đồng người Chăm theo sau năm 1471, chủ yếu là do các cân nhắc về văn hoá dân tộc.

(ii) Chăm và Hồi giáo
Trong khi những người cai trị Malacca đã chuyển đổi sang Hồi giáo năm 1414, Hồi giáo vẫn chưa thực sự xâm nhập vào Champa. Phải sau đó Hồi giáo mới trở nên quan trọng, qua mối liên hệ chặt chẽ giữa người Chăm và người Mã Lai. Vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, nó sẽ là yếu tố chính trong việc kêu gọi sự giúp đỡ của người Mã Lai chống lại sự thống trị của người Việt. Người Cham chỉ chuyển đổi sang Hồi giáo vào thế kỷ thứ 17, gần ba thế kỷ sau người Mã Lai. Tuy nhiên Hồi giáo đã được giới thiệu đến Champa vào thời gian trước đó, nhưng chưa xác định. Maspero đã nói rằng một số người Chăm có thể đã theo đạo Hồi sớm nhất là vào thời đại của nhà Tống ở Trung Quốc. Hai bản khắc Kufic được tìm thấy ở miền Nam Champa có niên đại vào khoảng năm 1030 CE (sau Công Nguyên) và có một số dấu hiệu về một cộng đồng Hồi giáo ở Champa vào thế kỷ thứ 10.

(iii) Chăm và Kelantan
Trong khi Kelantan được biết đến như là Cửa ngõ đến Mecca kể từ Malacca sụp đổ vào năm 1511, danh hiệu này không nhất thiết có nghĩa là sự thực hành tôn giáo khi xưa cũng giống như ngày nay, khi mà tôn giáo là điều quan trọng nhất trong cuộc sống của người Kelantan (gọi là Kelantanese.) Sự hiện diện của vua Po Rome ở Kelantan vài năm trước khi lên ngôi lên ngôi vua Champa có lẽ là một nỗ lực để học hỏi rộng rãi về văn hoá Mã Lai, bao gồm cả ma thuật Malay và tôn giáo mới Hồi giáo. Thay vì là mối quan tâm chính của Po Rome, Hồi giáo là một phần của nền văn hoá Mã Lai rộng lớn hơn mà ông và những người Chăm khác đang hy vọng học hỏi để khơi dậy lại mối liên hệ giữa dân tộc và văn hoá của họ với thế giới Mã Lai.

Quan hệ giữa người Chăm và người Mã Lai không chỉ giới hạn trong các hoạt động tôn giáo. Rất có thể người Chăm đã thường xuyên đến Kelantan trong nhiều thế kỷ. Một số địa danh ở đó, chẳng hạn như Pengkalan Chepa và Kampung Chepa, gợi ý mối quan hệ chặt chẽ giữa hai dân tộc và sự chấp nhận rộng rãi của người Mã Lai. Trang phục và vải dệt có những cái tên liên quan đến Champa, ví dụ như tanjak Chepa, nụ hôn Chepa, và kain Chepa. Chepa được sử dụng để mô tả một loại dao găm. Có padi Chepa (lúa Champa) và sanggul Chepa (một trang trí tóc). Người ta tin rằng một nhà nguyện Hồi giáo ở Kampung Laut được xây dựng bởi những thủy thủ người Chàm thường xuyên đến Kelantan. Và theo Hikayat Kelantan (Kelantan Annals), tổ tiên của Long Yunus, người sáng lập của Vương quốc Kelantan ngày nay, có nguồn gốc từ một quốc gia gọi là Kebayat Negara hoặc Kembayat Negara, được cho là Champa.

Phong trào Cham di cư bán đảo Malay dường như thường xuyên và thậm chí kéo dài. Ngay từ cuối thế kỷ 15, một cộng đồng Chăm đã được thành lập ở Malacca. Trong khi hầu hết cư dân của thuộc địa là thương nhân, nó đã bắt đầu như một khu bảo tồn cho người tị nạn Chàm. Năm 1594, vua xứ Chăm đã gửi một lực lượng quân sự để giúp Sultan of Johore chiến đấu chống lại người Bồ Đào Nha ở Malacca. Mặc dù không có lời giải thích nào cho hành động của nhà vua Chăm, nó có thể bị ảnh hưởng bởi bản sắc Malay chung và có lẽ là đức tin Hồi giáo thông thường của các nhà cai trị của Champa và các đối tác Malay của họ.

Theo biên niên sử Babad Kelantan, một hoàng tử Chăm đã đến Kelantan vào giữa thế kỷ 17, người được biết đến dưới cái tên Nik Mustafa. Sau khi cư trú tại Kelantan trong nhiều năm, ông trở về Champa và được làm vua, trị vì với danh hiệu của Sultan Abdul Hamid. Một vị vua Chăm khác được cho là người Hồi giáo là con của Po Rome, Po Saut (1660-1692), vị vua cuối cùng của nước Champa độc lập.

Một trường ca Chăm có tựa là Nai Mai Mang Makah (Công chúa đến từ Kelantan) kể câu chuyện về một công chúa từ Kelantan, người đã cố gắng biến vị vua Chăm thành Hồi giáo. Sự việc này không rỏ ngày tháng. Po Dharma và Gerard Moussay cho rằng sự kiện diễn ra giữa sự sụp đổ của Champa năm 1693 và cuộc nổi dậy của Tây Sơn năm 1771. Manguin cho thấy rằng người Mã Lai di cư vào xứ Chăm đã đóng vai trò làm lớn trong việc ảnh hưởng đến người dân Chàm chuyển sang đạo Hồi. Theo đó, người Chăm cũng bị ảnh hưởng bởi người Mã Lai để tuân thủ các giáo phái Sunni Shafie, và giống như người Mã Lai, họ cũng giữ dấu vết tận tụy của người Shiite. Tuy nhiên, Manguin cũng tin rằng việc Malay di cư đến Champa bị hạn chế hơn nhiều, đặc biệt là sau khi Champa bị Việt Nam sáp nhập.

Các nguồn tin từ các nhà truyền giáo Pháp đề cập đến là trong suốt ba mươi năm trước khi Champa bị sụp đổ vào tay nhà Nguyễn năm 1693, thì đã có rất nhiều học giả và nhà truyền giáo Mã Lai tại triều Champa. Nhiệm vụ chính của họ là phổ biến đức tin Hồi giáo cho người Chăm. Rất có thể người Mã Lai đã tham gia vào cuộc chiến giúp người Chàm chống lại sự lấn chiếm của người Việt trên lãnh thổ Chàm, dẫn đến một số phong trào chống Việt Nam. Về vấn đề này, người Chàm rõ ràng đã nhắc đến bản sắc Mã Lai-Hồi giáo của họ trong nỗ lực tìm kiếm sự giúp đỡ chống lại người Việt Nam.

(iv) Hỗ trợ Hồi giáo Mã Lai - Malay chống lại Chàm
Giữa việc thành lập chế độ Nguyên đối với Chămpa năm 1693 và sự tàn sát cuối cùng của thực thể chính trị Chăm vào năm 1835, người Chăm đã có nhiều nỗ lực để thoát khỏi chế độ Việt Nam. Đây thường là những cuộc nổi dậy có vũ trang. Trong số những cuộc nổi dậy của người Chăm là những năm 1693, 1728, 1796, và 1832-34.

Sự kháng chiến của người Chăm năm 1796 được dẫn dắt bởi một nhà quý tộc Malay tên là Tuôn Phaow. Người ta tin rằng ông đến từ Kelantan khi ông nói với những người theo Chăm rằng ông đến từ Mecca (Kelantan). Những người theo ông chủ yếu là người Chăm từ Bình Thuận và từ Campuchia (gợi lên ý kiến ​​cho rằng ông ta đến từ Campuchia), và cũng có người Mã Lai. Sự kháng cự của Tuấn Phaow có một chiều hướng tôn giáo. Để hợp thức hóa hành động của mình, Tuấn Phaow tuyên bố đã được Thượng đế gửi đến để giúp người Chăm chống lại người Việt. Các lực lượng của Tuôn Phaow chống lại Nguyễn Anh (Gia Long, người sáng lập triều Nguyễn). Mặc dù kháng cự mạnh mẽ gần hai năm, lực lượng của Tuấn Phaow đã bị dồn vào và đánh bại bởi quân đội nhà Nguyễn với sự góp sức của một nhà lãnh đạo Chàm thân nhà Nguyễn. Tuôn Phaow theo báo cáo đã trốn thoát đến Mecca. Phong trào kháng chiến này là dấu hiệu đầu tiên rõ ràng cho thấy sự kháng chiến của Chăm có một mối liên hệ mạnh mẽ với người Mã Lai. Nó cũng cho thấy rằng Hồi giáo có khả năng kêu gọi một cuộc tập hợp chung.

Cuộc nổi dậy Chăm năm 1832 diễn ra như là một phản ứng chống lại sự áp bức khắc nghiệt của Hoàng đế Ming Mang đối với người Chăm trong việc trả thù cho sự ủng hộ của họ với Tổng trấn Gia Định ở phía Nam chống vua Minh Mạng. Tổng trấn Lê Văn Duyệt đã từ chối chấp nhận mệnh lệnh của triều đình Huế từ năm 1728. Sau khi Lê Văn Duyet qua đời vào năm 1832, con nuôi ông là Lê Văn Khôi lên kế vị và tiếp tục chống lại triều đình nhà Nguyễn. Quân đội Ming Măng đã thực hiện một loạt các hoạt động áp bức chống lại người Chăm tại Bình Thuận để trừng phạt họ để ủng hộ Lê Văn Duyệt và Lê Văn Khôi. Trong mâu thuẫn này, sự kết nối giữa người Mã Lai và Chàm rõ ràng bằng hình thức lãnh đạo bởi người Mã Lai. Người Chăm được dẫn đầu bởi một giáo sĩ Hồi giáo từ Campuchia tên là Katip (Khatib) Sumat, người đã trải qua nhiều năm nghiên cứu Hồi giáo ở Kelantan. Khi nghe tin Champa đang bị tàn sát bởi quân đội nhà Nguyễn, Katip Sumat ngay lập tức trở về. Đến Bình Thuận vào năm 1833, cùng đi với ông là một lực lượng lớn người Mã Lai và người Chăm từ Kelantan. Katip Sumat lãnh đạo người Chăm trong một loạt các cuộc tấn công du kích chống lại quân đội Nguyễn. Ngoài việc đấu tranh cho sự sống còn của Champa, Katip Sumat đã kêu gọi mối liên hệ Hồi giáo trong việc tập hợp sự ủng hộ của Mã Lai và Chăm cho mục đích đó. Trong một số khía cạnh, cuộc chiến Chàm chống lại người Việt Nam đã trở thành một hình thức chiến tranh tôn giáo. Tuy nhiên, cuộc kháng chiến của Katip Sumat dẫn đầu đã bị đánh bại bởi quân đội Nguyễn.

Đoàn người Mã Lai theo Katip Sumat không chỉ bao gồm các tình nguyện viên. Người ta tin rằng họ được gửi đến bởi Sultan Muhamad I của Kelantan (1800-1837), là người đã tập hợp một đội quân đi cùng Katip Sumat tới Champa. Theo TS Po Dharma, các yếu tố cơ bản là sự thừa nhận của Sultan rằng ông và nhà cai trị của Chiêm Thành đã chia sẻ cùng dòng dõi (hậu duệ của vua Chàm Po Rôme) và nhu cầu duy trì sự thống nhất Hồi giáo.

(vi) Liên kết Chăm - Mã Lai sau cuộc chiếm đóng của Pháp năm 1835
Với sự kết thúc của cuộc nổi dậy năm 1835, sự liên kết của Chăm với thế giới bên ngoài cũng giảm đi đáng kể. Tình hình này tiếp diễn cho đến nửa sau của thế kỷ 19, khi Bình Thuận và năm tỉnh khác ở miền Nam đã được Nguyễn trao lại cho người Pháp vào cuối cuộc chiến Pháp - Việt năm 1858-1861. Sự xuất hiện của của thuộc địa Pháp tại Việt Nam thực sự đã kết thúc những cố gắng của nhà Nguyễn muốn quét sạch người Chăm. Sự phân hủy bộ máy hành chính của nhà Nguyễn khi đối mặt với sự kiểm soát mạnh mẽ của Pháp ở các tỉnh đã cho thấy ​​sự khởi đầu của những khát vọng khôi phục bản sắc của người Chăm xưa. Những nỗ lực để thiết lập lại mối liên kết truyền thống với thế giới bênngoài, bao gồm cả những tiểu bang của Mã Lai, đóng một vai trò quan trọng. Điều này được thể hiện qua các báo cáo của các giáo sư tôn giáo (ulama) từ bán đảo Malay đã thường xuyên đến vùng đất Champa trước đây trong những năm cuối của thế kỷ 19 và những thập kỷ đầu của thế kỷ 20. Giống như những người tiền nhiệm của họ, nhiều người trong số những du khách đó ở lại lâu dài ở Champa cũng như trong số những người Chăm ở Campuchia. Họ kết hôn với người Chăm và sinh con. Một số trong những gia đình này vẫn còn ở Champa và Campuchia, củng cố các mối quan hệ đã được thiết lập trong những thế kỷ trước đó.

(trích từ Quan hệ Việt Nam-Champa và mạng lưới khu vực Mã Lai và Hồi giáo trong các thế kỷ 17-19) bởi Danny Wong Tze Ken)

Người Chăm và Acheh

Nguồn gốc của Aceh là Chàm không còn nghi ngờ gì nữa, khi vua Syam Pau Kubah của Champa đã gửi Syah Pau Ling con trai ông lên nắm quyền ở Aceh khi thủ đô Vijaya (Champa) bị người Việt Nam san bằng năm 1471 sau Công nguyên. Acehnese là ngôn ngữ duy nhất không phải là ngôn ngữ Chamic trong nhóm ngôn ngữ Aceh-Chamic gồm 11 ngôn ngữ (nguồn: Acheh Sultanate, wikipedia)

Người Chăm ở Malaysia

Vương quốc Chămpa đã thiết lập mối quan hệ thương mại với cả Malaya, Pattani, Aceh cũng như Java từ thế kỷ thứ 4. Nhiều cuộc chiến tranh cũng nổ ra giữa Vương quốc Champa với Java. Di cư chỉ đơn giản là không thể tránh khỏi. Người Chăm là người Hindu. Một số vẫn là ngày hôm nay, nhưng nhiều người bây giờ là Hồi giáo. Malaysia có một số người nhập cư Chăm và mối liên hệ giữa người Chăm và nhà nước Kelantan ở Malaysia là mối quan hệ đã có trước.

Từ khi chiến tranh Việt Nam kết thúc năm 1975 đến năm 1993, chính phủ Malaysia đã nhận không ít hơn 7.000 người tị nạn Hồi giáo đến từ Việt Nam và Campuchia, khiến họ trở thành nhóm duy nhất trong số hàng chục ngàn người tị nạn Việt Nam đến Malaysia, được chấp nhận và cho định cư tại Mã Lai. Mặc dù lời giải thích chính thức cho sự chấp thuận này dựa trên các quan điểm nhân đạo, nhưng sự thật nằm ở mối liên hệ Mã Lai - Chàm với một điểm chung là cùng chung đạo Hồi Giáo (nguồn: Danny Wong).

Từ tháng 6 năm 1975 đến năm 1988 khoảng 10.722 người tị nạn có tổ tiên là người Mã Lai-Chàm vào Mã Lai, được đưa vào các trại tị nạn ở Kemumin, Pengkalan Chepa, Kota Bahru, Kelantan. Trại này sau đó được đổi tên thành Taman Putra, Kemumin ... Trại tị nạn ở Kemumin được quản lý bởi PERKIM. Những người tị nạn được đưa vào trại trong 2 năm và trong thời gian đó họ được dạy các lớp về giáo lý Hồi giáo, ngôn ngữ và văn hoá Mã Lai và cách sống của người Malaysia. Sức khoẻ của họ cũng được trông nom. Vào đầu năm 1977, gần 4/5 số người tị nạn được phép ra khỏi trại để làm việc trong đồn điền và tham gia vào các hoạt động kinh doanh. Họ đã được cấp thẻ "quan khách" là một văn kiện tạm thời cho phép họ tìm kiếm việc làm và sống tạm thời ở Malaysia. Nhiều người tị nạn, sau khi rời khỏi trại tỵ nạn, sống và làm việc tại Kelantan đặc biệt là ở Kota Bahru. Nhiều người trong số họ cũng tìm kiếm công việc và cơ hội ở các tiểu bang khác ở Malaysia như Selangor, Negeri Sembilan, Perak, Melaka và Johor. Con cái của họ được phép học ở trường; ở đại học, và nhiều người trong số họ đang học ở các cơ sở giáo dục cao hơn. Những người tị nạn người Mã-Chàm đã hội nhập tốt với xã hội Malaysia và phần lớn người Malaysia coi họ là người Mã Lai. Sau 25 năm sống ở Malaysia, nhiều người trong số họ đã trở thành công dân của Malaysia. Ngày nay, có khoảng 25.000 người Mã-Chàm ở Mã Lai bao gồm những người được sinh ra ở đây. Chính phủ Malaysia coi người Chàm không phải chỉ là Chàm mà là người "Malay Chams". Danh tính Hồi giáo Malay của người Cham của Campuchia đã đảm bảo sự gia nhập của họ vào Malaysia và giúp hội nhập của họ vào xã hội Malaysia. Danh tính người Hồi giáo của người Chăm đã thu được những lợi ích cho cộng đồng của họ (trích từ Hiểu được bản sắc Chăm ở lục địa Đông Nam Á: những quan điểm tranh chấp (2006))

Được công nhận là người Malay, hiến pháp của Malaysia đã thừa nhận quyền của người Chăm đối với quốc tịch Malaysia và tình trạng Bumiputra của họ. Luật của Malaysia định nghĩa một Melayu như một người thực hành đạo Hồi giáo và văn hoá Mã Lai, nói tiếng Bahasa Melayu và tổ tiên của họ là Melayu, theo điều 160 của Hiến pháp Liên bang. Bumiputera hoặc Bumiputra là thuật ngữ tiếng Malay được sử dụng rộng rãi ở Malaysia, bao gồm người bản xứ của Quần đảo Mã Lai. Thuật ngữ này bắt nguồn từ từ Phạn ngữ bhumiputra, có thể dịch theo nghĩa đen là "con trai của trái đất". Trong những năm 1970, chính phủ đã thực hiện các chính sách kinh tế nhằm tạo thuận lợi cho Bumiputra ở Mã Lai, và người Chăm được coi là Bumiputra Malay.

Những bài viết liên quan:

  1. Vietnam-Champa Relations and the Malay-Islam Regional Network in the 17th–19th Centuries, by Danny Wong Tze Ken, Associate professor in the Department of History, University of Malaya.
    2. RESEARCH ON CHAM HISTORY IN MALAYSIA, by DANNY WONG TZE-KEN, www.sabrizain.org/malaya/library/chamhistory.pdf
    3. Understanding the Cham identity in mainland Southeast Asia: contending views (2006), SOJOURN: Journal of Social Issues in Southeast Asia, publication Date: 01-OCT-06
    4. The Historical Place of Acehnese: The Known and the Unknown(2007),by Graham Thurgood, California State University, Chico, USA, First International Conference of Aceh and Indian Ocean Studies, http://www.acehinstitute.org/aceh_fp_grahamthurgood.pdf
    5. Cham Muslims of the Mekong Delta: place and mobility in the cosmopolitan (2007), by Philip Taylor, NUS Press.
    6. Champa, http://en.wikipedia.org/wiki/Champa
    7. Research on Cham History in Malaysia (by DANNY WONG TZE-KEN, http://www.sabrizain.org/malaya/library/chamhistory.pdf
    Posted by Boon Raymond at 4:29 AM
0
Total votes: 0
kevin cham
User not write anything about he.
Like (2)
Loading...
2

It will be interesting:

By: On May 26, 2018
0 Rating 278 views 0 likes 0 comments
Read more
By: On November 22, 2013
0 Rating 590 views 9 likes 0 comments
Read more