0 Rating 247 views 0 Likes 3 comments

LƯU LC X CHAMPA

JaHaon

*Biển Chămpa, 28/12/1282.

Gần một tháng lênh đênh trên biển, chỉ còn vài ngày nữa là đến Chămpa. Trong tôi cứ mong được sớm thấy miền đất ấy, nơi mà tôi có thể thấy được những điều mới mẻ, những con người mới. Tôi tự cười chính mình, sao tôi lại suy nghĩ kỳ cục như vậy! Nhiều người nói rằng, họ nhớ nhà lắm, họ muốn lênh đênh như vầy mãi. Chămpa sẽ là một nơi rất tồi tệ.

Tôi là Yuen Pa, 25 tuổi, sinh ra ở một làng quê nghèo, vùng Quảng Đông, Nam Tống. Tôi là đứa con duy nhất của ba mẹ, chúng tôi yêu thương và sống vui vẻ với nhau, cuộc sống cứ thế trôi qua bình thản, giản dị cho đến khi người Mông Cổ xuất hiện.

Hai năm trước Nam Tống bị quân Mông Cổ xâm chiếm. Nhắc đến quân Mông Cổ tôi lại cắn răn rơi nước mắt. Chúng quá tàn ác, sao chúng lại có thể giết người tàn bạo đến vậy? Chúng cũng có cha mẹ, có con, có người thân, bạn bè... chúng cũng là con người như tôi vậy, nhưng dường như chúng chẳng có chút đồng cảm gì với đồng loại. Chúng đốt cả làng chúng tôi, giết bất cứ ai chúng thấy, kể cả trẻ sơ sinh và phụ nữ mang bầu.

Cuộc sống dường như là một chuỗi đau khổ bất tận, ông trời cứ thích đưa đẩy con người vào những thảm cảnh kỳ cục nhất. Bây giờ đây, bạn biết không? tôi lại ở đây, trên những chiến thuyền dẫn đầu bởi bọn Mông Cổ, tôi trở thành thứ xấu xa mà tôi căm thù nhất.

Hôm đó tôi đã nhìn thấy tất cả, trong vô vọng tôi núp mình trong bụi cây trên một ngọn đồi cao ngoài làng. Quân Mông Cổ tiến vào làng, chúng giết từng người, đốt từng căn nhà. Tôi quá hèn nhát, chỉ biết núp, không dám chạy ra, chạy ra lúc đó đồng nghĩa với cái chết. Trong thâm tâm, tôi biết rằng những người thân yêu đang gặp nguy hiểm, nhưng tôi lại tự dối rằng họ sẽ chạy thoát. Một suy nghĩ dối trá hèn hạ.

Khi bọn Mông Cổ đã rời đi, tôi mới dám bước vào ngôi làng, nhà tôi chẳng còn gì ngoài tro bụi. Hơn nửa năm sau, tôi quanh quẩn khắp nơi cố tìm tung tích của cha mẹ. Trong số những người còn sống, có người nói cha mẹ tôi đã mất, có người nói họ không biết. Nhưng tôi chưa bao giờ còn nhìn thấy cha mẹ nữa, cũng chẳng còn người thân nào.

Tôi đến Quảng Châu, xin vào làm phụ bếp trong một quán ăn. Làm những việc lặp đi lặp lại, ngày qua ngày chỉ để sinh tồn. Trong quán ấy có một cô gái tên Khan Sy, cô gái rửa chén của quán ăn. Tôi cảm mến cố ấy, nghĩ rằng chúng tôi hợp đôi. Lỡ đâu sau này chúng tôi có thể cùng kết duyên, xây nên ngôi nhà, có với nhau những đứa con, cùng xây nên một gia đình hạnh phúc.

Suy nghĩ ấy đem lại cho tôi chút ấm áp. Tôi hay nhìn trộm cô ấy, nhìn mái tóc tôi rất muốn chạm vào. Có đôi lần ánh mắt chúng tôi bắt gặp nhau, thật thú vị và bối rối. Rồi một hôm, tôi ngõ lời, cô ấy đồng ý. Chúng tôi yêu nhau được hơn một năm và có rất nhiều kỷ niệm vui buồn. Nhưng cuối cùng chúng tôi đã chia tay.

Khan Sy đang tuổi trăng tròn, nhiều người hỏi cưới cô ấy, người giàu cũng có, người tuấn tú cũng có, tất cả đều có vẻ tốt hơn tôi. Cứ như vậy làm cho cô ấy phải băn khoăn. Tôi yêu Khan Sy lắm, tôi bảo rằng tôi sẽ cố gắng cho hai tôi có một cuộc sống tốt đẹp, hãy tin ở tôi. Lúc ấy, tôi không có gì trong tay.

Khan Sy không tin lời tôi nói. Sau đó, tôi càng níu giữ, cô ấy càng quyết tâm rời bỏ. Tôi như điên dại, con tim tan nát. Sao cuộc đời lại như thế? Sao một người có thể tệ bạc với người yêu thương mình như vậy? Biết bao kỷ niệm mà sao họ có thể quên nhanh đến như vậy? Rồi một ngày Khan Sy nói chúng tôi nên chia tay, cô ấy xin lỗi, cô ấy cần phải nghĩ về tương lai của gia đình mình, đã có người hỏi cưới và cô ấy đã đồng ý. Không còn cách nào khác, tôi và Khan Sy rời xa nhau từ đó.

Lúc này, gian sơn Đại Tống đã thuộc về người Mông Cổ. Triều đại mới lấy quốc hiệu là Nguyên. Một hôm tôi đang làm thì quan quân triều đình tới bắt tôi đi. Họ nói triều đình đang tuyển binh, tôi buộc phải tòng quân. Cuộc đời tôi bắt đầu chuyển sang một ngã rẽ khác ở một nơi xa xôi, tôi trở thành thứ mà tôi căm ghét nhất.

Cuối năm 1282, Toa Đô dẫn đầu 10 vạn quân cùng 1000 chiến thuyền từ Quảng Châu tiến thẳng đến Chămpa.

 

*Biển Chămpa, 29/12/1282.

Sau gần nửa năm huấn luyện, tôi được điều đi tham gia cuộc viễn chinh Chămpa. Do không quen với khí hậu trên biển nên tôi bị sốt nặng, có một người tên Yan Sao được phân công chăm sóc tôi. Nhờ anh ta tận tình chăm sóc mà tôi đã qua khỏi cơn bạo bệnh, chúng tôi thân nhau từ đó. Tôi và Yan Sao cùng thuộc một tiểu đội, anh cũng là người Hán như tôi. Hàng ngày cứ đến giờ ăn, tôi lại rủ Yan Sao cùng đi ăn, một hôm thấy Yan Sao ăn cơm mà mắt rơi lệ, anh nói anh nhớ nhà quá. Anh tâm sự trước đây anh là ngư dân ở một làng chài nhỏ, anh có một cô vợ xinh đẹp cùng đứa con thơ đang chờ ở quê nhà. Triều Đình ban lệnh tòng quân, anh không thể trốn, cũng không đủ tiền lo lót quan lại, chỉ còn biết hy vọng có thể toàn mạng trở về.

Quen nhau từ khi lên chiến thuyền này, tôi luôn cảm nhận được sâu thẳm trong Yan Sao là sự buồn bã, bất lực và nỗi sợ hãi, lo lắng. Anh có quá nhiều thứ để nghĩ về. So với anh, tôi lại thấy mình may mắn phần nào, tôi không có quá nhiều thứ phải lo nghĩ như Yan Sao.

Hạm đội có tới 1000 chiến thuyền do Nguyên soái Toa Đô chỉ huy. Chiến thuyền rất to, mỗi chiếc chứa tới 100 người cùng lương thực, binh phục và nhiều thứ cần thiết khác cho từng ấy con người trong vòng một năm. Nguyên Triều đã chuẩn bị hai năm trời cho việc chinh phục Chămpa lần này. Trước kia Nam Tống là một đế quốc giàu có sở hữu kỹ thuật đóng tàu tân tiến nhất thiên hạ. Dựa vào kỹ thuật đó, Nguyên Triều cho đóng một loạt chiến thuyền cỡ lớn chuẩn bị cho việc chinh phục những xứ sở xa xôi như Chămpa, Java và Đại Việt.

Đế chế Mông Nguyên đặt người Mông Cổ lên vị trí ưu việt nhất, nắm quyền cai trị thiên hạ, đồng thời họ cũng đặt chúng tôi - những thần dân của Nam Tống xuống vị trí thấp nhất gọi là Nam nhân. Đối với tôi bọn Mông Cổ mới xứng ở vị trí thấp nhất, chúng không gì hơn là những kẻ du mục man rợ không chút tính người. Không hiểu sao ông trời lại trao cho chúng vị trí ưu việt hơn so với các giống dân khác, thật không công bằng. Với bản tính tàn bạo và tham vọng ngu xuẩn, Hốt Tất Liệt xua những người như tôi và Yan Sao đến những vùng đất xa lạ, ở đó chúng tôi buộc phải sát hại những người xa lạ chẳng thù oán gì với mình, hận thù lại chất thêm hận thù. Những người Hán như tôi chẳng mặn mà gì khi phải chiến đấu trong hàng ngũ quân Mông Nguyên, chúng tôi buộc phải tòng quân chỉ vì thời thế.

Màn đêm buông xuống, cả một vùng biển lấp lánh ánh đèn của 1000 chiến thuyền, tựa như ngàn ngôi sao sáng giữa đại dương. Tôi đứng trên thuyền, nhìn ngắm những ánh đèn, rồi lại nhìn lên bầu trời có vô số những vì sao sáng. Tự hỏi có phải mỗi ngôi sao là một linh hồn?

Đột nhiên, tôi thấy họ, rất nhiều người, có cả ba mẹ, trên người họ toàn máu. Tất cả họ đang nhìn tôi chằm chằm. Một phần tôi muốn chạy đến với họ, một phần tôi thấy sợ hãi. Ánh mắt họ như muốn nuốt sống tôi, nhưng họ chẳng làm gì cả, họ chỉ nhìn. Phía sau tôi là một cánh cổng gỗ, sau cánh cổng là một đại dương mênh mông. Mặt nước ở đó rất phẳng lặng. Tôi vội chạy vượt qua cánh cổng, thật lạ là tôi có thể đứng trên mặt nước, lúc đó tôi cảm nhận thấy một con quỷ đang ở phía sau mình, nó chặn cánh cổng lại. Tôi tiếp tục chạy xa khỏi cánh cổng, chạy mãi, rồi tôi nhận ra mọi thứ xung quanh là một biển nước rộng vô tận. Xa xa tôi thấy cánh cổng gỗ ban nãy. Tôi quyết định chạy lại cánh cổng. Khi đã chạy tới trước cổng, tôi bỗng dừng lại, cảm nhận có thứ gì đó đang ở trên đầu mình, một con quỷ đang ấn những móng tay sắt nhọn của nó xuyên qua đầu tôi...

Tôi chợt tỉnh dậy, Yan Sao đang vỗ nhẹ vào đầu tôi, hóa ra mọi thứ kinh khủng lúc nãy chỉ là mơ. Yan Sao vừa vỗ tôi vừa gọi "dạy đi Yuen Pa, tới đất liền rồi!". Tôi tỉnh dậy trong mơ màng, trời đã tờ mờ sáng, có thể nghe thấy tiếng gà gáy, phía trước chúng tôi là vùng đất của Chămpa.

 

 

*Đầm Cri Vinaya, gần kinh đô Chămpa, 30/12/1282.

Để đánh chiếm kinh đô Vijaya, trước hết chúng tôi phải vào được một con đầm rộng lớn tên là Cri Vinaya. Chỉ có một cửa biển hẹp để vào con đầm ấy, quân Chămpa có thể đặt mai phục ở hai bên cửa biển. Vì vậy việc tiến vào đầm sẽ rất nguy hiểm, nhưng không còn cách nào khác.

1000 chiến thuyền đang chậm rãi vượt qua cửa biển ấy. Từng chiếc nối đuôi nhau xâu chuỗi thành một đường thẳng, mọi người im lặng một cách đáng sợ. Những gương mặt sợ hãi, lo lắng báo hiệu điều đáng sợ đang gần kề. Mặt nước thật phẳng lặng, ở phía đông, mặt trời chỉ mới bắt đầu ló dạng. Đột nhiên, trên trời xuất hiện những tảng đá khổng lồ lao về phía chúng tôi. Hàng chục tảng đá lao tới từ phía tây. Mặt nước tĩnh lặng bổng xuất hiện những tiếng nổ dữ dội. Một vài chiếc thuyền bị đá đâm thủng đang chìm dần, nhiều người chết đuối, có người bị đá đâm phải nát bét. Những tảng đá vẫn tiếp tục lao tới như món quà ra mắt chết chóc từ Chămpa.

Phía tây cửa biển có nhiều máy bắn đá lớn. Quân Chămpa không ngừng bắn ra những tảng đá khổng lồ về phía chúng tôi nhằm phá hủy những chiến thuyền. Mặc cho cơn mưa đá, chúng tôi dong thuyền tiến thằng về phía tây cửa biển, phải tiêu diệt đội quân bắn đá. Chẳng mấy chốc thuyền đã tiến sát bờ, lớp lớp binh lính rời thuyền tiến về phía máy bắn đá. Đội của tôi dùng khiên rộng che chắn lẫn nhau trước những mũi tên độc. Chúng tôi từ từ tiến về phía trước, rồi bỗng nhiên quân Chămpa rút chạy bỏ lại những máy bắn đá đã bị phá hủy.

Kết thúc trận này, có 12 thuyền bị chìm, khoảng 1000 người chết. Tôi và Yan Sao may mắn vẫn còn sống. Đây mới chỉ là sự khởi đầu của những cơn ác mộng.

Chúng tôi tiếp tục dong thuyền tiến về phía Đông đầm Cri Vinaya. Bờ đầm nơi chúng tôi dựng trại là một bãi cát trắng rộng lớn. Từ doanh trại nhìn về phía tây là bờ bên kia của đầm, nơi có quân Chămpa; nếu đi về phía Đông khoảng nửa canh giờ sẽ thấy biển Chămpa. Chiến thuyền được neo lại trong đầm, chúng tôi di chuyển trên những con phà để vào bờ. Tới hai ngày sau thì mọi việc mới xong xuôi.

Trong hơn 30 ngày sau đó không có chiến sự nổ ra. Cứ vài ngày lại có sứ giả sang dụ hàng vua Chămpa, nhưng không có dấu hiệu cho thấy Chămpa sẽ đầu hàng.

Trong một buổi chiều, đội tôi đi tuần tra quanh bờ biển. Ở đó có rừng thông và những dãy núi cao nhô ra biển. Trong khu rừng có những quả trái nhỏ mà tôi không biết tên, những trái ấy vừa chua vừa ngọt vừa đắng, ăn vào rất sướng miệng. Chúng tôi hái những trái ấy, ngồi nghỉ lại bên gốc cây, vừa ăn trái vừa bàn về cuộc chiến đang diễn ra.

Rồi mai Chămpa sẽ đầu hàng chăng? Tôi hỏi đùa Yan Sao. Nhìn về phía Biển, Yan Sao trầm ngâm: Không đâu, trừ phi sứ giả mình có phép thuật!

Yuen Pa ơi, chúng ta đều mong tới ngày trở về. Quê hương ở phía bên kia biển cả. Nhưng phải chấp nhận thôi, Chămpa có đầu hàng thì còn có chiến dịch tiến lên Đại Việt, hành trình trở về gian nan lắm. Người Chăm hay người Việt không bao giờ dễ dàng giao lại gian sơn của họ, muốn chiếm lấy chỉ con cách đổ máu mà thôi.

Một hôm đội tôi đang đánh cá ở đầm thì thấy một thuyền lớn đi ngang qua, là thuyền của sứ giả đi dụ hàng người Chămpa trở về. Trên thuyền lại cắm cờ đen, là dấu hiệu báo rằng sứ mệnh đã thất bại, là lần thứ 7 rồi.

Ba ngày sau, đội tôi nhận nhiệm vụ hộ tống sứ giả sang dụ hàng. Đây là lần thứ 8, cũng là lần cuối cùng, nếu không thành công thì sẽ có một trận quyết chiến. Chẳng mất nhiều thời gian để thuyền đến được phía tây bắc của đầm. Ở đó có một con sông lớn, chúng tôi dong thuyền đi ngược dòng sông về phía tây nam, nơi có nhà vua ngự. Khác hẵn với nơi chúng tôi đóng quân là một nơi khô hạn, nhìn ra hai bên bờ sông có thể thấy những đồng lúa xanh rộng mênh mông, cây cỏ phát triển tươi tốt.

Lâu lâu lại thấy một số thuyền Chămpa đang đi xuôi ngược. Có vẻ mọi sinh hoạt của người dân vẫn diễn ra bình thường. Nhiều ngư dân chỉ mặt quần mà không mặt áo bất kể là trai hay gái, khí hậu nơi đây khá nóng nên nhiều khi mặt áo là không cần thiết. Phần lớn họ có làn da đen ngâm, nhưng cũng có người có da trắng sáng. Nhìn thấy thuyền sứ giả họ cũng chẳng bận tâm lắm, vẫn tiếp tục công việc. Có lẽ thuyền sứ giả đi qua đây nhiều lần rồi nên cũng chẳng còn gì lạ.

Ở phía nam bờ sông có một thành quân sự rất rộng, người Chăm gọi là Bal Sri Banoy. Thành chủ yếu được làm bằng gỗ, phía Bắc thành dựa vào hào tự nhiên là con sông mà chúng tôi đi qua. Thuyền phải mất hơn nửa canh giờ mới đi qua hết mặt bắc của thành. Dựa vào tính toán thì thành này có chu vi khoảng 20 dặm. Trên thành có binh lính canh giữ cẩn mật. Họ mặt quần áo vải màu đen xám, đi chân trần, tay cầm giáo và khiên. Có nhiều người còn có cung với tên nỏ được tẩm độc. Một số ít người khác, có lẽ là chỉ huy được trang bị áo giáp. So về trang bị họ không hề thua kém binh lính nhà Nguyên, chỉ khác là chúng tôi đều có giày để đi. Ở phía dưới thành, lâu lâu thấy có những con voi cao tới 3 mét đang được cho ăn, ngà của chúng sắt nhọn được bọc lại bằng thép, chắc hẵn là voi chiến Chămpa, trông khá đáng sợ.

Vẫn còn 10 dặm nữa mới đến nơi nhà vua ngự, chúng tôi tiếp tục dong thuyền về phía trước.

 

 

*Địa khu Vijaya, Chămpa, 10/2/1283.

Có một nhóm binh lính Chămpa đang đóng trại ở ven sông. Thấy thuyền sứ giả nhà Nguyên thì họ ra hiệu cho cập bờ. Sau khi vào bờ, chúng tôi được chào đón bởi một vị quan cùng khoảng 100 binh lính khác.

Vị quan ấy mặt một chiếc áo dài màu xám chỉ dài đến quá đầu gối, phần thân dưới quấn một chiếc sarong nhiều màu dài tới tận bàn chân, chiếc áo dài che chắn phần trên của chiếc sarong ấy, đầu tóc vị quan được quấn lại gọn gàng bằng một chiếc khăn màu đen, chân ông ta mang một đôi giày được làm từ da thú. Vị quan còn có một thanh đao được đeo ở sau lưng, tôi đoán ông ta là một vị võ quan.

Không ngờ rằng vị quan này có thể giao tiếp sành sỏi với chúng tôi bằng Tiếng Hán. Sau này tôi mới biết đã có rất nhiều người Hán dong thuyền đến tận xứ này để trốn tránh quân Mông Cổ, rất có thể vị quan đã học Tiếng Hán từ những người đó.

Họ đã chuẩn bị sẵn rất nhiều ngựa cho chúng tôi cưỡi. Giống ngựa của họ thấp bé hơn những con ngựa tôi thấy ở Trung Nguyên. Tuy thấp bé nhưng những con ngựa này vẫn là phương tiện di chuyển nhanh nhất ở xứ này. Không mất nhiều thời gian, chúng tôi đã đến được hành cung nơi nhà vua đang ở. Sau khi dâng thư của chủ soái Toa Đô lên nhà vua, chúng tôi được dẫn đến nơi ở giành cho sứ giả, ở đó chúng tôi được tiếp đãi trọng thị. Đến ngày hôm sau vua Chămpa sẽ quyết định có muốn gặp sứ giả hay không. Nếu không hài lòng, ông ta có thể yêu cầu chúng tôi quay trở về, thậm chí có thể bắt nhốt hoặc giết hết chúng tôi.

*Thư Toa Đô gửi cho vua Indravarman V:

Ta vì thương dân xứ ngài còn thơ dại, không nỡ lạm sát mà hơn một tháng nay án binh bất động, không nỡ tiến vào đốt phá xứ sở của ngài. Ngài nghĩ rằng, với binh lực hùng hậu của Nguyên Triều, một khi tràn vào đánh chiếm kinh đô thì liệu binh lính ngài có chống giữ nổi không?

Xưa kia, Khwarezm là một đế quốc rộng lớn hơn xứ ngài gấp chục lần, vua xứ ấy ngạo mạn sai người tàn sát sứ giả Mông Cổ, kết cục quân ta tràn vào xứ ấy đốt sạch, giết sạch, già trẻ lớn bé ngay cả gia cầm cũng không tha. Nhà Kim đối địch với chúng ta hơn 23 năm trời cuối cùng cũng phải chịu thất bại, thành Yên Kinh bị quân ta đốt trụi tới ba tháng mới cháy hết. Ngay cả nhà Tống một thời hùng mạnh giờ cũng đã bị chúng ta chinh phục. Kể ra những điều ấy để cho ngài thấy được mệnh trời đã thuộc về Nguyên Triều. Là bậc quân vương, chắc ngài thừa sáng suốt để hiểu thế nào là Thiên Mệnh. Cớ sao ngài vẫn mãi ngoan cố mà chưa chịu qui phục Thiên Triều?

Ở phía Bắc, các vua Đại Việt từng nhiều lần mang quân sang tàn phá đất nước của ngài, bắt đi dân chúng của ngài, chiếm nhiều lãnh thổ của ngài. Mối thâm thù này há ngài có thể quên được? Nếu chịu qui phục, ta đại diện cho Thiên Triều hứa sẽ giúp ngài tiêu diệt Đại Việt, sau đó sẽ hoàn trả lại gian sơn toàn vẹn cho ngài.

Bên nào lợi, bên nào hại đã quá rõ ràng. Ta biết rằng ngài là một bậc quân vương thương dân như con, há lại muốn con dân mình phải lâm vào cảnh máu chảy đầu rơi? Người xưa có câu "kẻ thức thời mới là trang tuấn kiệt", mong ngài hãy suy xét thật kỹ càng.

 

Tối đó là một đêm trăng sáng, chúng tôi được ban cho những chum rượu cần, rất nhiều thịt dê, thịt trâu cùng nhiều quả trái tươi ngon khác. Chúng tôi hút rượu thông qua những ống hút bằng tre được cắm vào chum rượu theo như tập quán của người Chămpa. Rượu của họ rất loãng và ngon, phải uống tới tận khuya mới say. Tối đó, chúng tôi được ăn uống no say thỏa thích. Đây có lẽ là khoảng thời gian vui nhất trong hơn hai tháng từ khi tôi rời quê nhà. Bất chợt một cảm giác buồn đến não lòng chợt ập đến, toàn thân tôi xìu xuống như chẳng còn sức sống. Tôi nhớ đến Khan Sy người tôi yêu, không biết giờ này nàng đã ra sao? Tôi lại nhớ ba mẹ của mình, nhớ ngôi làng thân thương gắn liền với tuổi thơ. Nước mắt tôi trào ra. Nhìn xung quanh tôi thấy nhiều người khác cũng đang khóc, họ cũng rất nhớ nhà như tôi.

Tôi tìm đến Yan Sao, anh ta đang ngồi một mình bên chum rượu, tay cầm mảng thịt to, vừa hút rượu vừa nhai ngấu nghiến. Trông anh chẳng có vẻ gì buồn rầu. Thấy tôi với bộ dạng như đứa trẻ, Yan Sao chỉ cười thầm rồi nói:

Tôi đã khóc quá nhiều rồi, chẳng còn nước mắt để mà rơi nữa. Yuen Pa, hãy đến đây, chúng ta sẽ tiếp tục uống, uống cho quên hết mọi sự. Tôi giật lấy ống hút, hút liên tục mấy chục ngụm, rượu đối với tôi khi ấy như nước đối với người sắp chết khát vậy. Tôi cứ uống, cứ uống rồi gục lúc nào không hay.

Sáng hôm sau, khi tôi vẫn còn đang vật lộn với cơn say đêm qua thì có một vị quan đến báo rằng vua của họ không muốn gặp sứ giả và yêu cầu chúng tôi phải rời đi ngay. Vị quan đưa cho chúng tôi thư của vua Chămpa, bảo rằng phải gửi đến tận tay Toa Đô. Sứ giả nhận thư rồi nhanh chóng sắp xếp rời khỏi hành cung của nhà vua. Chúng tôi phi ngựa trở về thuyền, trên đường đi tôi nhận thấy một điều lạ là có rất nhiều nhà tranh hai bên đường, nhưng lâu lâu mới thấy được vài ba người, dân chúng đã đi đâu hết?

 

*Địa khu Vijaya, Chămpa, 11/2/1283.

Dong thuyền xuôi theo dòng sông quay trở lại đầm Cri Vinaya. Khi tới giữa đầm thì thấy một vài binh lính Nguyên Mông đang đánh bắt cá, họ nhìn chúng tôi với ánh mắt như lúc trước tôi nhìn những sứ giả vậy. Chắc họ cũng đoán được sứ mệnh lần này lại thất bại, và một trận ác chiến là không thể tránh khỏi.

Sứ giả mang thư của vua Chămpa trao cho Toa Đô. Sau khi đọc xong Toa Đô đã rất giận dữ vì đã uổng công hơn một tháng khuyên hàng. Ông ta coi lá thư như là lời khiêu chiến, ra lệnh cho binh lính ở trạng thái sẵn sàng, chúng tôi sẽ tấn công vào Bal Sri Banoy bất cứ khi nào có lệnh.

 

 

*Thư vua Indravarman V gửi Toa Đô:

Biết được đại nhân vì thương dân nước tôi mà không muốn động binh, tôi vô cùng cảm kích. Bản thân tôi đã già yếu chẳng trông mong gì nhiều, chỉ mong sao dân chúng luôn được yên bình vui sống, thật không hề muốn nhìn thấy cảnh máu chảy đầu rơi.

Nay Thiên Triều có ý muốn giúp tôi đánh Đại Việt, tâm ấy tôi xin nhận. Nhưng nước tôi với Đại Việt gần đây không có mâu thuẫn gì, nếu vô cớ dẫn quân qua đánh, e rằng làm điều bất chính trời sẽ không phù hộ, lại làm tổn hại lương dân. Nên tôi xin được phép từ chối ý tốt của Thiên Triều.

Tâm tôi một lòng qui phục Thiên Mệnh, đã sớm dâng thư xưng thần. Không biết vì hiểu lầm gì đã khiến cho Hoàng Thượng phải cất công cử quân tới tận đây để hỏi tội. Tuy là quốc vương đã 17 năm trời, nhưng đối với những việc đại sự của vương quốc, tôi thật sự không được toàn quyền quyết định. Mặc dù đã một mực khuyên can các vị có thực quyền trong vương quốc nhưng họ thật không chịu nghe lời. Họ còn trách móc tôi làm vương mà quá nhu nhược, tôi thật sự đã hết cách.

Chỉ mong sao đại nhân có thể rút quân về, năm sau tôi sẽ đích thân qua Trung Nguyên để tạ tội với Hoàng Thượng. Nếu đại nhân sợ bị Hoàng Thượng trách tội mà không thể rút quân, sợ rằng hai ta chỉ còn cách quyết chiến một trận. Mong đại nhân suy xét.

 

Chiều hôm ấy mây đen phủ kín bầu trời, sóng to, gió lớn nổi lên làm hư hại quá nửa chiến thuyền. Là điềm dữ chăng? Tôi hoang man nghĩ về tương lại sắp tới.

Đến sáng thì cơn giông tố qua đi, chúng tôi phải dành cả ngày để sửa chữa những chiến thuyền bị hư hại. Khi về lại doanh trại, tôi thấy vị chỉ huy thông báo một việc quan trọng:

Tôi phụng mệnh quan trên thông báo với các anh em rằng đội chúng ta nhận được lệnh phải tham gia vào trận đánh sắp tới. Vậy nên, chúng ta phải chuẩn bị tâm lý cho những gì sắp xảy ra. Trên chiến trường không có chỗ cho lòng thương cảm, các anh em phải giết để không bị giết. Chủ soái ra lệnh, một khi chiếm được thành của giặc, nếu gặp bất cứ ai, dù đàn bà hay con nhỏ cũng phải giết đi. Mục đích của việc này là làm cho người khác khiếp sợ mà bỏ đi quyết tâm phản kháng. Có như vậy quân ta mới mau thắng lợi, anh em cũng không phải tốn quá nhiều xương máu. Phàm những vật ít giá trị, anh em có thể giữ lại, nhưng những kho tàng lớn thì phải nghiêm phong. Đây là lệnh, anh em nhất mực phải tuân theo, nếu trái lệnh sẽ bị xử theo quân pháp.

Nghe lời truyền đạt của chỉ huy, tôi lại nhớ đến ngôi làng bị tàn sát của mình. Đúng vậy, chiến thuật của Mông Cổ đã rất hiệu quả, biết bao người Tống chỉ cần nghe đến sự tàn ác của họ thôi cũng phải rung sợ, không còn quyết tâm phản kháng. Để bây giờ chính người Tống phải chiến đấu dưới trướng người Mông Cổ.

Toa Đô không hề có ý thương xót dân chúng Chămpa. Ông ta chưa muốn tấn công chỉ vì muốn bảo toàn lực lượng để có thể đánh lên Đại Việt. Nếu chúng tôi bị thiệt hại quá nhiều tại chiến trường Chămpa, kế hoạch lâu dài đánh chiếm Đại Việt sẽ gặp nhiều rắc rối. Chămpa là xứ có những hải cảng rất quan trọng, Nguyên Triều rất muốn chiếm được nơi này, muốn biến nơi đây thành một bàn đạp vững chắc để vươn ra xâm lược các quốc gia xung quanh. Một khi đầu hàng, dân Chămpa chắc chắn sẽ phải lao động vô cùng khổ cực để phục vụ cho mộng xâm lược của Nguyên Triều.

Toa Đô hy vọng có thể dụ hàng vua Chămpa, tám lần gửi sứ giả đến khuyên hàng. Ông ta nghĩ rằng vua Chămpa có thể vì thấy quân đội hùng hậu của nhà Nguyên mà khiếp sợ đầu hàng. Nhưng rốt cuộc ông ta đã lầm. Cuối cùng vua Indravarman V gửi cho Toa Đô một bức thư có nội dung khiêu chiến. Đến nước này, chỉ còn cách bước vào một trận giết chóc mà thôi.

 

*Địa khu Vijaya, Chămpa, 13/2/1283.

Giữa đêm khuya, chúng tôi được lệnh lên thuyền tiến qua bờ Tây con đầm, trận này chúng tôi phải đánh chiếm được Bal Sri Banoy. Đó là một đêm rằm, trăng sáng vằng vặc. Một vạn quân được chia làm 3 cánh tiến tới Bal Sri Banoy. Cánh quân của tôi gồm 3000 quân được chủ soái Toa Đô trực tiếp chỉ huy. Chúng tôi sẽ tiến đánh mặt phía nam của thành. Hai cánh quân còn lại sẽ lần lượt tấn công vào cửa bắc và mặt đông của thành.

Bal Sri Banoy là một thành quân sự nằm ở phía tây đầm Cri Vinaya, ước lượng nơi đây có một vạn quân Chămpa canh giữ ngày đêm. Để chiếm được kinh đô Chămpa, trước hết phải chiếm được Bal Sri Banoy.

Ngồi im trên chiến thuyền, lòng tôi nôn nao trước sự yên tĩnh của cảnh vật. Chỉ một chốc nữa, không biết chuyện gì rồi sẽ đến? Phải chăng đây là thời khắc cuối cùng của đời mình? Cảm giác lúc chết thế nào? Nghĩ đến lúc ấy, tôi cố hình dung ra cảm giác chết. Tôi nhắm mắt lại, nhịn thở, cố không suy nghĩ gì cả.

Tôi nghe kể rằng, cho tới cận kề cái chết người ta vẫn nghe được. Âm thanh là thứ cuối cùng mà một con người có thể cảm nhận, không phải sự đau đớn, không phải những suy nghĩ nuối tiếc. Tiếng kêu của những con cò chợt khiến tôi mở mắt, đến bờ rồi sao? Không phải. Một vài con cò đang bay trên trời phát ra tiếng kêu quan quác. Dưới ánh trăng rằm, nhìn về phía tây có thể thấy đóm lửa quân Chămpa. Đoàn thuyền chúng tôi hơn 30 chiếc, tất cả đều không bật đèn dầu để tránh quân Chămpa nhìn thấy. Nhờ ánh trăng mà các chiến thuyền có thể bám theo nhau mà đi.

Khi sắp vào bờ, chúng tôi bị lính canh Chămpa phát hiện, họ liền thổi kèn báo động. Ở xa xa về phía Bắc và phía Đông thành, cũng nghe thấy tiếng kèn và trống báo động vang khắp bầu trời. Hai cánh quân kia đã bắt đầu tấn công rồi. Toa Đô lệnh đẩy nhanh tốc độ tiến vào đất liền.

Chúng tôi nhanh chóng chấn chỉnh đội hình tiến tới phía nam Bal Sri Banoy. Dưới trăng rằm, 3000 chiến binh nhắm hướng cổng thành mà tiến tới. Từ trong thành, quân Chămpa bắn ra những quả cầu lửa và mũi tên độc. Không thể bắt thang lên thành, chúng tôi dùng tên tẩm lửa bắn cháy thành gỗ. Bắn bao nhiêu thì người Chămpa dập lửa bấy nhiêu, chúng tôi tiếp tục bắn không ngừng nghỉ, cuối cùng thành cũng cháy, khói bốc lên cao ngất trời. Không thể dập lửa, người Chămpa xua voi ra thành.

Chúng tôi rất sợ những con voi cao lớn ấy, nhưng chúng còn sợ lửa hơn. Cứ mỗi lần voi tiến đến, chúng tôi lại dùng tên lửa bắn đi làm chúng phải lui lại. Thế trận giằng co ngày càng ác liệt, kéo dài tới sáng rồi tới tận trưa. Trước tình thế ấy, Toa Đô lệnh cho 1000 quân cảm tử xếp theo đội hình mũi tên xông thẳng vào cổng thành. Tuy bị thiệt hại khá nặng, nhưng chúng tôi đã nhanh chóng phá được cổng thành. Tất cả quân Nguyên còn lại tràn vào đánh phá hỗ trợ quân cảm tử. Quân Chămpa vỡ đội hình, nhanh chóng chạy tan tác.

Chúng tôi tràn vào thành đốt phá toàn bộ, lúc này quân Chămpa trong thành phải chống chọi với cánh quân Nguyên đã tràn vào thành và 2 cánh quân Nguyên khác đang tấn công ở phía Bắc và phía Đông. Thấy không thể chống nổi bèn rút chạy khỏi thành, những ai chạy không kịp đều bị tàn sát. Cuối cùng chúng tôi đã làm chủ được toàn bộ Bal Sri Banoy.

Nhiều toán quân Nguyên đi lang thang lục lọi trong thành, thu được hơn 100 máy bắn đá mà quân Chămpa để lại.

Đi về phía Tây, tôi thấy một tháp Chămpa và ba người vẫn chưa chịu đi. Họ là các thầy tu trông giữ tháp. Họ không hiểu tiếng Hán, tỏ vẻ vô cùng sợ hãi. Ngôi tháp này khá đồ sộ, cao tầm 20m, thân hình chữ nhật, đầu thì nhọn dần lên cao. bên trong không có gì đặc biệt, chỉ có các vật bằng đá gọi là Linga và Yoni.

Yan Sao rút gươm ra, mắt đầy sát khí tiến về phía thầy tu. Tôi vội can ngăn: cậu định làm gì? Yan Sao: Chủ soái ra lệnh phải giết hết.  Đột ngột anh ta chém phăng một người, đầu người ấy rơi xuống đất, máu phun như nước. Hai người kia thấy vậy thì vô cùng kinh hãi bỏ chạy vô tháp quì lạy thánh thần, Yan Sao vào trong tháp kết liễu toàn bộ.

Sau khi tàn sát, anh ta lấy mọi vàng bạc trên các thi thể, còn đưa cho tôi một cái vòng vàng, bảo rằng: đây là phần của cậu, đừng nói cho ai biết. Tôi bước vào Tháp, nhìn những thi thể đầy máu. Tôi khép lại những đôi mắt vẫn còn mở to. Tại sao tôi lại rơi vào hoàn cảnh đầy tội lỗi này, tôi chỉ muốn thoát khỏi nơi này.

 

 

*Bal Sri Banoy, Vijaya, Chămpa, 16/2/1283.

Lửa vẫn cháy, một thương cảng nhộn nhịp chỉ còn là chốn hoang tàn. Xác chết còn rải rác khắp nơi, mùi máu tanh vẫn còn nồng nặc. Chỉ sau một ngày, chúng tôi lại được lệnh tiến đánh thành Vijaya. Toa Đô viết một bức thư ngắn gửi toàn quân để khích lệ nhuệ khí.

Trận này, quân ta tuy ít hơn vẫn dễ dàng dành được chiến thắng, không hỗ danh với tầm vóc của một quân đội vô địch thiên hạ. Người Chăm không biết tự lượng sức, một mực hung hăng lao đầu vào trận chiến, khác gì lấy trứng chọi đá. Giờ thì bọn chúng đã chuốc lấy đại bại, có hối hận cũng đã muộn màng. Đúng là, chưa thấy quan tài chưa đổ lệ.

Nay, vua tôi chúng trong cơn hoảng loạn đã chạy trốn về thành đô Vijaya. Tiếc thay, với sức mạnh của quân ta, hành động của vua tôi chúng chẳng khác gì chui đầu vào rọ. Cổ nhân nói “dụng binh quí ở thần tốc”, nhân lúc địch còn rối loạn, anh em hãy ngay lập tức chấn chỉnh đổi ngũ chuẩn bị tiến đánh thành Vijaya. Lệnh mờ sáng ngày mai bắt đầu xuất quân.

Hành quân dưới cơn mưa tầm tả, đoàn quân Nguyên nối đuôi nhau dài như vô tận. Vừa đi vừa hát Quân Ca, tiếng hát của hàng vạn người vang lên tận bầu trời, hòa cùng tiếng mưa và tiếng sấm tạo nên một bản hòa ca của trời đất và con người.

 

Ta đi

Vì sự nghiệp nhất thống

Ta đi

Quân địch phải bại tan

Ta đi

Tiếc gì sự sống

Ta đi

Trọn thiên mệnh, báo hoàng ân

 

Chúng tôi tiến đến đông nam thành Vijaya. Lúc này, vua Chămpa cử sứ giả ra xin hàng, nhưng Toa Đô đuổi sứ về, yêu cầu Vua phải đích thân ra mắt thì sẽ được miễn tội. Qua một ngày, không thấy hồi đáp nên phát lệnh tiến đánh mới phát hiện thành Vijaya đã bị bỏ trống. Sau khi chiếm được thành, chúng tôi ra ngoài thành hạ trại như tập quán của quân Nguyên Mông.

Hai ngày sau, sứ giả Chămpa lại tới, lần này là cậu của vua Chăm, tên là Bhadradeva. Tuy là người Chămpa chính thống, nhưng Bhadradeva có thể nói sành sỏi tiếng nói của người Nguyên, dáng đi của ông ta toát lên vẻ cao thâm khó lường.

 

*Toa Đô và Bhadradeva:

Bha..: Bẩm đại nhân, tại hạ phụng mệnh quốc chủ tới để xin cầu hòa.

Toa Đô: Trước kia, ta năm lần bảy lượt cầu hòa với chúa nhà ngươi. Nhưng ông ta nhất mực không chịu mới gây ra cơ sự này. Lần trước ta đã nói, muốn cầu hòa thì đích thân ông ta phải đến đây, cớ sao lần này người đến lại là ngươi?

Bha..: Bẩm, quốc chủ đã rất ân hận vì hành động ngu muội, ảnh hưởng đến biết bao lương dân bá tánh. Vì lo nghĩ quá nhiều, lại tuổi cao sức yếu nên quốc chủ lâm trọng bệnh. Giờ người nằm bất động trên giường không biết còn sống được bao lâu. Do vậy, quốc chủ chưa thể tới để tiếp kiến đại nhân. Nay, quốc chủ sai tại hạ mang theo ngọn giáo này, là vật bất ly thân của người làm vương trao lại cho đại nhân để tỏ lòng thành.

Toa Đô: Ngươi tưởng có thể lừa được ta hay sao? Nói với chúa nhà ngươi, nếu còn không chịu ra tạ tội, ta sẽ đồ sát toàn bộ dân chúng. Ngọn giáo này ta không nhận.

Bha..: Xin đại nhân bớt giận, từng lời tại hạ nói đều là sự thật. Tuy chưa thể ra tiếp kiến, nhưng quốc chủ có nói, ba ngày sau con trưởng quốc chủ Sri Harijit sẽ đến tạ tội với đại nhân.

Toa Đô: Đích thân ông ta phải tới chứ không phải ai khác, ngươi đừng nhiều lời.

Bha..: Xin đại nhân hãy cho tại hạ thời gian để bẩm báo lại với quốc chủ. Xin đừng làm tổn hại lương dân.

Toa Đô: Được, ngươi hãy mau đi đi. Nhớ rằng, tính mạng của rất nhiều người tùy thuộc vào sự thành tâm của chúa nhà ngươi.

Bha..: Tại hạ, xin cáo lui.

Thành Vijaya bị bỏ trống không một bóng người. Những thứ có giá trị nhưng không thể mang đi đều bị đốt hết, không thu được gì từ thành này. Chỉ thấy xung quanh là một đồng lúa dại rộng mênh mông.

Sau khi Bhadradeva rời đi, chúng tôi được lệnh tỏa ra xung quanh thành để lùng bắt bất cứ ai còn ở lại. Dường như mọi người ở đây đã bỏ đi từ lâu, trước cả khi thành đô thất thủ, chỉ bắt được hơn một trăm người già chưa chịu rời đi. Thật ra cũng có người trẻ ở lại, chỉ có một người mà tôi nhìn thấy, một cô gái trẻ.

Hôm đó, chúng tôi vô một ngôi làng để lùng bắt bất cứ ai còn ở lại. Nhưng tất cả dân làng đã rời đi, trừ căn nhà nọ. Phát hiện thấy một cụ già, chúng tôi xông vào lục soát xem còn ai nữa không. Thật ra chúng tôi chỉ lục soát qua loa vì nghĩ rằng sẽ không còn ai khác ở đó. Thấy khát nên tôi mở nắp cái lu tìm nước uống. Nhưng trong cái lu đó, không phải là nước, mà là một cô gái trẻ, vẻ mặt ngây thơ, ánh mắt to, ánh mắt ấy, nhìn tôi để cầu mong chút thương hại. Đây là khoảnh khắc mà tôi có thể quyết định đến số phận của một con người, có thể tưởng tượng ra mọi thứ khủng khiếp sẽ xảy ra với cô gái tội nghiệp nếu tôi không đóng cái nắp ấy lại. Nhưng nếu tôi đóng lại thì sao? Tôi có thể bị phát hiện đã trái lệnh, và theo quân pháp tôi sẽ bị xử tử, đều đó cũng tồi tệ không kém. Đến lúc đưa ra quyết định tôi lại nhìn vào ánh mắt ấy, cảm giác thật thân thiết, nó làm tôi nghĩ về Khan Sy. Chợt một người lính từ đằng xa gọi tôi: Hey, Yuen Pa đi thôi, có gái đẹp trong đó hay sao mà nhìn hoài vậy? Yuen Pa: Không, tôi chỉ tìm nước uống, mà nhìn mãi chẳng thấy nước! Rồi tôi đóng nắp lại, chúng tôi cõng cụ già đi xa khỏi ngôi làng.

Tôi vừa quyết định một điều trọng đại, quyết định ấy làm tôi cảm thấy thanh thản. Chúng ta được sinh ra để làm những điều tốt đẹp, chứ không phải giết chóc. Chẳng ai vui vì giết chóc, nếu có là bởi vì họ bị hủy hoại bởi sự căm thù, hoặc họ là cầm thú. Nhưng cuộc sống vốn phức tạp, đâu phải lúc nào ta cũng làm việc tốt. Giả như, người trong lu là một gã mặt hung dữ thì sao? Tôi có bắt hắn không? Có thể lắm, khi đó tôi lại đối đáp với lương tâm rằng đó chỉ là nhiệm vụ.

 

*Bên ngoài thành Vijaya, Chămpa, 27/2/1283.

Sau một tuần, Bhadradeva lại đến, lần này ông dẫn theo hai người nữa đi vào doanh trại của Toa Đô. Trên đường đi, ông nhìn thấy bên đường là những thần dân Chămpa bị bắt làm con tin, lòng Bhadradeva trở nên nặng trĩu.

Bha..: Bẩm đại nhân, quốc chủ sức yếu quả thật không thể đến yết kiến. Quốc chủ có hai con trai, nay đến thay mặt cha để bàn việc xin hàng.

Toa Đô: Trên đường vào đây, chắc ngươi đã thấy số người bị ta bắt. Số người đó, nếu ta có giết hết thì chúa nhà ngươi chắc cũng chẳng động lòng. Vậy mà nói thương dân như con ư? Chúa nhà ngươi ham sống sợ chết, vì bản thân mặc kệ dân lành. Nay lại đem hai con đến thế mạng. Một người như thế, có xứng đáng làm vương không hả? Nếu không nói sự thật, ta sẽ giết hết đám người ngoài kia.

Bha..: Đến nước này, tại hạ chỉ còn biết nói sự thật.

Toa Đô: Nói.

Bha..: Hai người này, thật không phải con quốc chủ.

Toa Đô: Hả, bây đâu, nhốt hai kẻ mạo danh này lại.

Hai người bị bắt tỏ vẻ giận dữ, liên tục chửi Bhadradeva là kẻ phản bội: Đồ vong ân bội nghĩa, ta có chết cũng sẽ về ám nhà ngươi, sẽ về ám ba đời nhà ngươi... Bhadradeva chỉ biết cuối đầu. Sau khi hai người đó bị lôi đi, Bhadradeva mới tiếp tục nói.

Bha..: Lúc trước bản quốc có 10 vạn quân mới dám chống lại thiên binh. Nay đã tan tác hết, không còn hy vọng phục hồi. Thái tử Sri Harijit là một người anh dũng kiên cường cũng đã bỏ mạng.

Toa Đô: Còn quốc chủ nhà ngươi thế nào?

Bha..: Bẩm, quốc chủ bị tên bắn vào má, nay đã đỡ. Nhưng vì hổ thẹn và sợ hãi nên không dám đến yết kiến.

Toa Đô: Chẳng qua là hắn sợ bị ta bắt. Đã hết thời mà còn cố bám víu quyền lực. Nếu vậy, ta sẽ cử người đến hỏi thăm hắn xem sao.

Nói rồi Toa Đô sai Lâm Tử Toàn, Lật Toàn, Lý Đức Kiên đi theo Bhadradeva, mượn cớ thăm bệnh vua Chămpa để dò thám quân tình.

Toa Đô: Bhadradeva, ta thấy ngài là một bậc hiền tài, nếu có thể, cố gắng cùng ta sớm kết thúc cuộc chiến này. Nếu mọi việc suôn sẻ, ta có thể tâu lại với thánh thượng, để ngài được làm vương.

Bha..: Tại hạ không dám! Từ lâu, tại hạ đã say mê văn hóa Trung Nguyên. Nếu có ngày được dốc lòng phục vụ Thiên triều, thì quả là phúc phận ba đời!

Toa Đô: Hay lắm, trải qua trùng dương, không ngờ lại gặp được tri kỷ chốn này. Hay lắm!!

Sau đó Bhadradeva cùng bọn Lâm Tử Toàn theo hướng Tây Bắc mà đi. Đến vùng đồi núi hiểm trở thì bị quân Chămpa chặn lại không cho đi tiếp. Bấy giờ, Bhadradeva tỏ vẻ như bị vua Chămpa dối gạt. Ông ta nói với Lâm Tử Toàn: "Quốc chủ dùng dằng không chịu ra hàng, nay lại phao lời là muốn giết tôi, ông hãy về thưa với tỉnh quan rằng quốc chủ đến thì đến, không đến thì tôi sẽ bắt đem nộp". Bọn Lâm Tử Toàn đành quay về báo lại với Toa Đô. Còn Bhadradeva thì quay trở về căn cứ quân Chămpa.

Hơn 10 ngày sau, Bhadradeva lại đến gặp Toa Đô.

Bha..: Quốc chủ giờ không còn tin tại hạ. Cái đầu này, không biết còn giữ được bao lâu.

Toa Đô: Lão vẫn còn ngoan cố thế sao?

Bha..: Tại hạ hết lòng khuyên nhủ. Nhưng quốc chủ không những không nghe lời, còn đòi chém nếu tại hạ tiếp tục khuyên hàng.

Toa Đô: Vậy là ông ta không có ý định đầu hàng hay sao?

Bha..: Bẩm, đúng vậy.

Toa Đô: Nếu vậy, ta đành phải dẫn binh vào bắt lão ta.

Bha..: Đại nhân chớ đừng! Chỗ quốc chủ ở là nơi hiểm độc, quân lính thà chiến đấu đến chết còn hơn đầu hàng. Quân binh thiên triều không thông thuộc địa hình, nếu dẫn binh vào chốn như vậy, e rằng sẽ thiệt hại nặng.

Toa Đô: Vậy ngài có kế gì hay hơn chăng?

Bha..: Nhiều vị đại thần khi nghe tại hạ can ngăn đã đổi ý muốn qui phục thiên triều, giờ họ rất bất mãn với quốc chủ. Nếu được, xin đại nhân hãy ban cho tại hạ mũ áo của thiên triều. Tại hạ sẽ cố gắng khuyên hàng quốc chủ, nếu lần này thất bại, tại hạ có chết cũng cam lòng.

Toa Đô: Được, ta mong chờ tin tốt từ ngài.

 

*Bên ngoài thành Vijaya, Chămpa, 15/3/1283.

Bhadradeva lại đến, đi theo ông là các quan đại thần Chămpa.

Bha: Thưa đại nhân, đây là các vị quyền cao chức trọng trong triều đình. Họ rất có uy tín trong dân chúng, chỉ cần họ lên tiếng thì dân chúng Chămpa sẽ không phản kháng nữa mà thuận theo thiên triều. Nay họ đều về đây cả, cha con Indravarman không được lòng dân, cũng không được lòng quan, giờ như rắn mất đầu nhưng vẫn không chịu từ bỏ ngai vàng.

Các vị đại thần đồng thanh ho to: Thiên triều vạn tuế!

Toa Đô: Thật vậy sao. Sao ta nghe nói.. Các ngươi ngày đêm trữ binh, đắp thành, tích trữ lương thực là có ý gì?

Bha..: Bẫm, thật sự không hề có chuyện này. Cớ sao đại nhân lại nói như vậy?

Toa Đô: Có người nói với ta. Dẫn Tăng Diên vào đây.

Từ ngoài bước vào là một người Hán tên là Tăng Diên.

Tăng Diên: Thưa đại nhân, đã từ lâu trước khi có chiến sự, vua Chămpa bắt dân chúng ngày đêm xây dựng thành gỗ trên núi Aia Hu. Hiện giờ còn phát chiếu cần vương đến các địa khu khác, tập hợp được quân số lên tới hơn hai vạn người.

Bha..: Ngươi dựa vào đâu mà nói như vậy?

Tăng Diên: Tại hạ xưa là người Nam Tống, lưu lạc đến đây chỉ muốn sống yên bình. Thời thế loạn lạc, tại hạ gia nhập vào quân đội Chămpa, mọi chuyện trữ binh, đắp thành tại hạ đều biết.

Bha..: Nếu chỉ nói thì nói gì chẳng được, ngươi có bằng chứng gì không?

Tăng Diên: Bọn Chămpa khốn kiếp các người. Chúng tôi từ Nam Tống lưu lạc về đây, một mực trung thành với Chămpa. Cớ sao các người lại sinh mối nghi ngờ, sai giết hết chúng tôi? Cũng may mà ta số lớn, chạy thoát được về đây. Ta còn phải sống, để còn chứng kiến ngày Indravarman bị chém rơi đầu, rửa mối thù cho các bạn hữu của ta.

Bha..: Thưa đại nhân, người này là người Nam Tống, xưa không chịu qui phục thiên triều mà chạy trốn về đây được Chămpa cưu mang. Nay lại đặt điều nói xấu Chămpa, chỉ nói mà không có bất cứ bằng chứng gì, người như vậy có tin được chăng? Tại hạ đây vì thuận theo thiên mệnh mà nhiều lần suýt bị Indravarman giết. Giờ không còn chốn nào đề đi nữa, nếu quả thật đại nhân không tin tại hạ thì có thể giết đi.

Toa Đô: Ấy chớ, ta vẫn tin ngài. Lời nói của kẻ gió đằng nào theo đằng ấy, sao mà có thể tin được. May đâu, trói Tăng Diên lại.

Tăng Diên vừa bị quân lính lôi đi vừa la lớn: Đại nhân đừng mắc kế trá hàng, sau này sẽ hối hận…

Bha..: Đại nhân, hiện giờ cha con Indravarman đang rối loạn, quân dân không còn ý chí chống cự. Nhân cơ hội này có thể tiến lên núi bắt vua Chămpa. Tại hạ xin dẫn đường vào núi bắt cha con họ, chứng tỏ lòng thành.

Toa Đô: Cũng được, còn các vị đại thần này thì sao?

Bha..: Thưa đại nhân, có họ, việc dụ hàng các châu quận khác sẽ dễ dàng hơn.

Toa Đô: Được lắm, lần này thành công sẽ có thưởng lớn cho các vị.

Sau đó, Toa Đô sai Lâm Tử Tòan dẫn quân theo Bhadradeva đi bắt vua Chămpa. Còn Toa Đô dẫn quân đến đóng ở Tháp Bán Sơn để làm hậu viện.

 

*Bhadradeva và Lâm Tử Toàn:

Lâm Tử Toàn: Lần này đi bắt vua Chămpa, phải trông cậy vào đại nhân rồi.

Bha..: Tướng quân chớ nói thế, tôi chỉ là người dẫn đường, mọi gian khổ phía trước còn phải trông cậy nhiều vào tướng quân!

 

Bha..: Tướng quân, trước mặt là núi rừng hiểm trở. Có thể có bẫy và quân mai phục, để đảm bảo an toàn, tôi xin phép được vô đó trước dò thám xem sao.

Lâm Tử Toàn: Ấy chớ, việc nguy hiểm nên sai bọn lính làm. Nếu đại nhân có mệnh hệ gì, chúng tôi biết phải làm sao?

Bha..: Tướng quân, lính của ngài không thông thuộc địa hình, vô đó lỡ có chuyện gì cũng chỉ vong mạng vô ích. Còn tôi là cậu của vua Chămpa, nếu có mai phục thì cũng không ai dám làm hại tôi.

Lâm Tử Toàn: Vậy cũng được. Tôi sẽ sai 50 binh sĩ tinh nhuệ mặt thường phục đi cùng ông.

Bhadradeva cưỡi voi cùng 50 người đi vô rừng, từ đó họ không bao giờ quay lại nữa.

Chờ mãi không thấy Bhadradeva trở về, Toa Đô khi ấy mới biết mình đã trúng kế trá hàng của Bhadradeva. Toa Đô rất tức giận, nếu một tháng trước tấn công ngay thì Chămpa đã không kịp thời gian để chuẩn bị binh lực. Hôm sau, Toa Đô sai tướng Trương Ngung dẫn quân tiến thẳng đến căn cứ quân Chămpa.

 

*Núi Aia Hu, Vijaya, Chămpa, 16/3/1283:

Chúng tôi hành quân men theo thung lũng vào núi Aia Hu ở phía Tây Bắc thành Vijaya. Rừng âm u rậm rạp, có những cây cổ thụ cao lớn đến nỗi che hết cả bầu trời. Đường đi khúc khuỷu đầy đá dốc rất khó khăn cho việc hành quân.

Yan Sao: Tôi cảm thấy bất an lắm, lần này không ổn rồi.

Tôi: Việc gì đến sẽ đến thôi cậu.

Yan Sao: Cậu còn nhớ những người tôi đã giết ở Tháp Chămpa không? Kể từ hôm đó, lúc nào tôi cũng thấy ác mộng không ngủ được. Đêm qua tôi lại mơ thấy họ, đáng sợ nhất là một người không đầu. Ông ta mặt áo trắng dính đầy máu, tay cầm cái đầu nhìn thẳng vào tôi, vừa nhìn vừa cười khoái chí, còn phung cả máu vào mặt tôi nữa. Giờ tôi cảm thấy không ổn chút nào.

Tôi: Kinh thật! Có chết thì cũng nhanh thôi, không có gì phải sợ sệt.

Tham gia chiến dịch lần này có tới 3 vạn người. Chúng tôi quen chiến đấu ở địa hình đồng bằng, thảo nguyên. Còn với địa hình rừng rú hiểm trở thế này chúng tôi không có ưu thế gì hết, cả về trang bị lẫn quân số. Nghe Yan Sao kể về giấc mơ gớm giếc, tôi cũng cảm thấy bất an theo anh ta. Lỡ như có quân Chămpa mai phục thì chúng tôi chết chắc.

Càng đi sâu vào núi càng thấy nhiều con vật, lâu lâu lại thấy hổ, voi, trâu trừng, tê giác, chim, khỉ… khi thấy người chúng đều chạy đi mất. Đến khi mặt trời lên đỉnh, chúng tôi đến được một thung lũng khá thoáng đoãng, hai bên là sường núi cao ngất, lâu lâu lại có thác nước rất mát từ đỉnh núi chảy xuống. Việc hành quân vô núi chủ yếu phải đi vào thung lũng chứ không thể đi trên đỉnh núi được, vì sẽ tốn rất nhiều sức của binh sĩ. Với thung lũng thoáng đãng, việc hành quân sẽ nhanh và đỡ tốn sức hơn, nhưng kèm với đó là nỗi lo bị mai phục.

Chúng tôi hành quân trong im lặng để tránh bị phát hiện. Đến chiều, trời bỗng tối sầm đi. Đột nhiên, chúng tôi nghe thấy tiếng gì đó, là tiếng của lũ voi, voi chiến Chămpa hay là voi rừng? Âm thanh ghê sợ ấy ngày càng to lên, rồi mặt đất bỗng nhiên rung chuyển. Hàng ngàn con voi khổng lồ lao như điên về phía chúng tôi, chẳng ai điều khiển chúng hết. Chúng hất tung mọi thứ cản đường, chẳng sức mạnh gì có thể dừng chúng lại. Các bính sĩ bỏ vũ khí chạy toán loạn, tôi cố gắng chạy nhanh nhất có thể, rồi bỗng nhiên sau lưng có một lực rất mạnh kẹp tôi lại, là ngà voi, thật khổng lồ và đáng sợ, con voi ấy hất tôi lên rất cao.

Tôi rơi xống rồi bị kẹp lại trên một cành cây cổ thụ, tay chân chẳng thể cử động được. Tôi có thể nhìn thấy, từ hai bên núi, quân Chămpa thả xuống những tảng đá, những thân cây gỗ chôn sống chúng tôi. Rồi hàng vạn quân Chămpa từ khắp nơi xông tới, mắt tôi nhắm lại.

Tôi lại thấy mình đang đứng trên mặt nước cạnh cánh cổng gỗ, con quỷ vẫn đang ấn những móng tay gớm giếc vào đầu tôi. Đột nhiên tôi chìm xuống nước, tôi muốn bơi, nhưng tay chân không thể cự động. Tôi chìm dần, chìm dần.

Mở mắt ra, tôi mới biết là mình bị tạt nước vào mặt nãy giờ. Một người đàn ông đầu trọc, da đen sạm đang nhìn chằm chằm vào mặt tôi: Tỉnh rồi à? Khiêng mày từ cây xuống mệt kinh hồn! Qua bên kia ngồi. Tôi đứng dạy, đi tới chỗ phải ngồi, có hàng ngàn binh lính nhà Nguyên khác cũng đang ngồi ở đấy. Xung quanh chúng tôi là binh lính Chămpa đang cầm đuốc. Giờ chúng tôi đã là tù binh.

Đế quốc đại nguyên phân dân chúng ra thành ba đẳng cấp dựa theo dòng máu. Đẳng cấp cao nhất thuộc về người có gốc gác Mông Cổ, đẳng cấp tiếp theo gọi là Hán nhân thuộc về người có xuất xứ từ Đại Kim và Tây Hạ, còn thần dân Nam Tống thuộc về đẳng cấp thấp nhất gọi là Nam nhân.

Họ gọi chúng tôi lên từng người, hỏi xem là người của đẳng cấp nào. Nếu Nam Nhân thì đứng sang bên phải, còn Hán nhân và Mông Cổ nhân thì đứng sang bên trái. Họ làm việc ấy cả đêm tới tận gần sáng, ước chừng có tới một vạn người bị bắt làm tù binh, số còn lại hầu như chết hết.

Những người sống sót kể lại, quân Chămpa đã mai phục sẵn ở hai bên sường núi. Sau màn dẫm đạp của đàn voi, quân Chămpa lao ra tấn công chúng tôi đồng thời từ hai bên sường núi và chặn cả đường rút lui. Tướng Trương Ngung phải mở đường máu mới có thể cùng một số tàn binh chạy thoát về doanh trại.

Không thấy Yan Sao ở đâu hết, chết rồi chăng? Chắc sẽ không bao giờ còn gặp lại anh ta nữa. Sắp đến lượt tôi rồi, không biết họ phân loại chúng tôi để làm gì? Một vạn người, quá đông, họ có đủ lương thực để nuôi hết số người này không? Bất chợt tôi nhận ra.

Quân lính: Mày, lên đi.

Quan quân: Hán nhân, Nam nhân hay Mông Cổ nhân?

Tôi: Nam nhân.

Quan quân: Qua bên này.

Sau đó họ trói hết Nam nhân lại, dẫn đi. Chúng tôi đi về phía tây. Nhưng Hán nhân và Mông Cổ nhân vẫn ở đó, không đi đâu cả, khi mặt trời vừa ló dạng cũng là lúc tôi nghe thấy tiếng la hét kinh hoàng của họ. Người Chămpa không tin họ, cũng không nuôi nổi họ, người Chămpa giết hết toàn bộ họ. Thân phận Nam nhân, cuối cùng lại giúp tôi thoát khỏi cái chết.

 

*Căn cứ quân Chămpa tại núi Aia Hu, 17/3/1283:

Trước mắt tôi là tòa thành gỗ, căn cứ kháng chiến của Chămpa. Ở đây có rất nhiều người, khác hẵn với vẻ hoang vu của núi rừng. Thành này cao hơn 30m, xung quanh có nhiều lớp hầm hào và cạm bẫy chằng chịt. Binh lính đông đúc như kiến, không có vẻ gì thiếu thốn. Xem ra tinh thần kháng chiến của người Chămpa không hề lay chuyển, với căn cứ này, họ có thể trường kỳ kháng chiến.

Ở đây chúng tôi được gọi là tù binh nô lệ và phải lao động để tạo ra lương thực, chúng tôi sẽ bị tách ra thành những nhóm nhỏ và dẫn đến nhiều nơi khác nhau. Nhóm của tôi gồm 20 người, đang chờ người quản lý. Hầu hết người quản lý là người Nam Tống, vì họ có thể giao tiếp với chúng tôi. Hy vọng người này là một người tử tế với người khác. Cuối cùng thì anh ta cũng tới:

-Quan quân: Wey, Sao giờ này mới tới, biết tôi chờ bao lâu rồi không?

-Anh thông cảm, dạo này bận bịu quá.

Anh ta ngắm nghía chúng tôi rồi tiếp tục nói: Người của tôi đây sao?

-Quan quân: Đúng thế, tôi hết việc rồi nhé.

-Mọi chuyện cứ để tôi lo, anh về đi. Vợ anh sẽ mừng lắm khi biết anh còn sống đó!

-Quan quân: Cám ơn, tôi đi đây.

Sau khi quan quân rời đi, anh ta quay lại nhìn chúng tôi, nở một nụ cười thật tươi rồi nói:

-Xin chào đồng hương! Tôi là Trần Kiên, quản lý của các anh em. Tôi cũng đến từ Nam Tống như các anh em, nên sẽ không tệ bạc với các anh em, chớ lo nhé! Mà ở đây chắc không ai là người Đại Kim, Tây Hạ hay Mông Cổ đâu nhỉ? À mà thôi.

Anh em hãy nghe cho rõ, người Chămpa rất nhân đạo, họ cho chúng ta một cơ hội làm lại cuộc đời. Các anh em nhớ cho kỹ, cố gắng làm việc siêng năng, khi chiến tranh kết thúc, các anh em sẽ được tự do. Nếu ai có ý trốn thoát, hình phạt sẽ là cái chết, không có cơ hội lần hai đâu nhé. Anh em rõ chưa?

Tất cả chúng tôi chỉ im lặng, cuối đầu.

-Trần Kiên: Có ai nói gì, cho tôi nghe tiếng đồng hương được không?

-Tôi: Đại nhân cho một cơ hội như thế, thật đáng mừng.

-Trần Kiên: Anh tên gì?

-Tôi: Yuen Pa.

-Trần Kiên: Nào Yuen Pa, các anh em, đi thôi!

Chúng tôi được dẫn đến một cánh đồng ngô rộng lớn, công việc hàng ngày là trồng ngô, làm đất, thu hoạch ngô, phát quan khu rừng… cũng chẳng khổ sở gì cho lắm.

 

*Hai tháng sau, núi Aia Hu, 5/1283.

Ban ngày chúng tôi lao động, đến tối chúng tôi được Trần Kiên dạy Tiếng Chăm. Chỉ trong vòng hai tháng, tôi đã có thể nói Tiếng Chăm lưu loát với Trần Kiên. Một hôm anh ta kêu tôi lại rồi nói:

Trần Kiên: Này Yuen Pa, cậu học nhanh lắm đấy, rất có năng khiếu ngôn ngữ.

Tôi: Cảm ơn đại nhân đã khen!

Trần Kiên: Ở đây ngày qua ngày, chỉ thấy mỗi ngô với núi, chắc cũng chán lắm nhỉ? Muốn vô thành một chuyến không?

Tôi: Bẩm, đại nhân có gì chưa hài lòng sao?

Trần Kiên: Không, không! Tôi chỉ có một việc muốn giao cho cậu.

Tôi: Việc gì ạ?

Trần Kiên: Số ngô làm ra ở đây, triều đình lấy 70%, còn 30% ta giữ lấy. Cậu biết đấy, có rất nhiều chi phí phải chi, tiền ăn, tiền mặc kể cả tiền lương của tôi nữa. Tất cả đều lấy từ 30% đó. Tôi thấy cậu học nhanh, lanh lợi, chắc bán hàng đắt lắm, không biết cậu có muốn bán ngô trong thành không?

Tôi: Bẩm, tại hạ sẽ cố gắng.

Trần Kiên: Được, hôm nay tôi sẽ hướng dẫn cậu, bắt đầu từ ngày mai đi bán ngô trong thành. Còn một điều nữa, đừng có trốn, không thoát được đâu.

Từ sau hôm đó, tôi không phải làm việc nặng nhọc ở nông trại nữa. Ngày ngày tôi chở ngô vào thành bán. Quả thật, tôi bán rất đắt khách, Trần Kiên nhìn người quả không lầm. Có bao nhiêu tiền tôi đều đưa cho hắn hết nên hắn rất hài lòng.

Dân chúng mọi nơi hội tụ về đây nên nơi đây rất sầm uất. Ở đây tôi thấy đủ loại người, có người Chămpa phương nam đến từ các địa khu Kauthara, Panduranga; có người thượng và người đồng bằng sống hòa thuận với nhau, nói cùng một ngôn ngữ Chămpa; có người Việt người Java đến tận đây để hợp sức chống quân Nguyên. Tôi cũng thấy rất nhiều người Nam Tống chứ không phải họ bị giết hết, vua Chămpa khi ấy chỉ giết một số người Hán ông ta không tin tưởng, sợ họ làm lộ kế trá hàng của Bhadradeva. Nếu không nhờ Bhadradeva mưu trí hơn người, thì giờ vua Chămpa bị bắt, toàn Chămpa và sau đó là Đại Việt cũng sẽ bị tiêu diệt.

Xa xa bỗng nghe thấy tiếng trống và tiếng thổi tù và, là thái tử Chămpa đang tới. Khi biết thái tử ngự giá, tất cả mọi người đều phải đứng im, khoanh tay lại trước ngực cuối đầu chào. Ở đây mọi người xem thái tử như là hiện thân của thần. Thái tử ngồi trên một thớt voi có lọng che, đi kế bên là một võ quan bưng một dĩa trầu cau. Đi theo sau là hơn 1000 ngự lâm quân được trang bị đầy đủ giáo, đao, khiên cùng cung tên. Trông rất uy nghiêm. Thái tử Sri Harijit Po Devada Svor là con trưởng của vua Indravarman V và hoàng hậu Gaurendraksmi, ngài là người nắm thực quyền toàn cõi Chămpa và sau này sẽ lên làm vua. Thái tử còn là người hiểu biết, có tài thao lược, đặt biệt rất biết giữ lời hứa nên được dân chúng kính trọng.

Tối đó, khi xe ngô đã bán hết, tôi dọn dẹp chuẩn bị về thì nghe thấy một giọng hát rất hay từ đằng xa. Tiếng hát của một cô gái, nghe thật da diết..

 

Sao người đi

Chẳng nói tiếng chi

Để mình em

Đêm ngày trông ngóng

 

Nơi rừng sâu

Người ở chốn đâu

Em ngồi đây

Vẫn chờ người mãi

 

Champa nagara

Giờ quá xót xa

Biết ngày nao

Ta lại sum vầy…

 

Tiếng hát sao sầu não, nghe như nỗi lòng người vợ Chămpa ngày đêm đợi chồng đã chết trận. Tôi tiến về đám đông, cố gắng xem người hát là ai mà hát hay vậy. Ở giữa đám đông ấy là một cụ già tay đang cầm đàn, bên cạnh là một cô gái trông rất xinh. Họ là hai ông cháu sao? Hình như tôi đã thấy họ ở đâu đó, đúng rồi! Giấy phút ấy tôi bỗng thấy vui mừng khôn xiết, chính là cô gái ấy, cô gái trong lu.

Có cảm giác thôi thúc tôi phải nói chuyện với cô ấy, tôi chưa thể về ngay được. Đợi tới khuya, khi không còn ai nghe hát nữa, thấy cô gái đang chuẩn bị rời đi thì tôi tiến lại gần.

Tôi: Cô gì ơi!

Cô gái ngước mặt lên nhìn tôi. Đúng rồi, chính là cô ấy, ánh mắt to, vẻ mặt ngây thơ.

Cô gái: Có gì sao?

Tôi: Cô còn nhớ tôi không?

Cô gái: Anh là ai?

Tôi: Chúng ta đã gặp nhau, cô ở trong cái lu, tôi thấy nhưng không bắt, cô còn nhớ không?

Cô gái: À, tôi nhớ rồi. Anh là quân Nguyên, sao anh lại ở đây?

Tôi: Giờ tôi không còn là quân Nguyên nữa, tôi bị bắt rồi, giờ tôi là nô lệ. Ngày ngày, tôi đẩy xe ngô ra bán ở đây.

Từ trong ngôi nhà gần đó, cụ già cầm cây đàn bước ra. Thấy người lạ, cụ già hỏi cô gái: Ai vậy con?

Cô gái: Là tên quân Nguyên đã tha cho con đó ông. Giờ anh ta bị bắt làm nô lệ.

Cụ già nhìn tôi rồi nói: Là anh sao?

Tôi: Thật hổ thẹn quá, xưa kia vì hoàn cảnh nên con phải bắt ông, mong ông bỏ qua.

Cụ già: Không sao, không sao. Tôi đã già yếu, bắt xong chẳng có ích gì nên họ lại thả ra. Cũng nhờ cậu mà ông cháu tôi mới có thể đoàn tụ như bây giờ. Ơn này tôi trả còn chưa hết.

Tôi: Dạ, gặp nhau như vầy, con nghĩ là có duyên đó ạ.

Cô gái: Duyên cái gì.

Cụ già: À, không biết cậu tên gì?

Tôi: Con là Yuen Pa, còn hai ông cháu thì sao?

Cụ già: Tôi là Wa Ka, còn đây là cháu tôi Aia Trang.

Tôi: Ông ơi, con có việc cần giúp, không biết có nên nói không?

Cụ già suy nghĩ một hồi rồi đáp.

Wa Ka: Cậu cứ nói, giúp được tôi sẽ giúp.

Tôi: Giờ này đã khuya, cổng thành đã đóng. Con thân là nô lệ, có tiền cũng không kiếm chỗ ở được. Nếu qua đêm ở ngoài này, để quân lính phát hiện e rằng con khó giữ nổi mạng sống. Không biết, ông có thể bảo lãnh con đêm nay được không?

Aia Trang: Không được, lỡ có mệnh hệ gì, ông cháu tôi sao gánh hết.

Wa Ka: Đừng nói thế! Lúc trước cậu ấy cũng mạo hiểm tính mạng để cứu con còn gì. Cậu à, việc này không khó lắm, đêm nay mời cậu qua đêm tại nhà chúng tôi.

Tôi: Cảm tạ hai người.

Tôi vừa đẩy xe đi vừa nghĩ trong đầu, cô gái kia mặt ngây thơ tưởng hiền ai ngờ nói chuyện hung dữ quá, không trông mong được gì rồi. Biết trước hồi chiều về quách cho xong, sáng mai chạy đâu cũng bị Trần Kiên chửi cho một trận. Giờ đã khuya khoắt, trên đường vắng bóng người, chỉ còn chúng tôi đang đi về.

Chúng tôi đến một nhà tranh dựng tạm bợ, là nhà của hai ông cháu. Tất cả nhà ở đây đều trông tàm tạm như vậy. Khi nào đánh giặc xong họ sẽ quay lại đồng bằng. Ở đây ông cụ có tài chơi đàn, còn cô gái thì hát rất hay. Hàng ngày họ cùng nhau đi đàn hát dạo, người ta cho bao nhiêu thì nhận bấy nhiêu, vậy thôi cũng đủ cho họ sống qua ngày.

Tối đó, tôi và ông cụ ngủ bên ngoài căn nhà, còn cô gái thì ngủ bên trong. Ban đêm tại vùng núi rất lạnh, lại không có đủ chăn để đắp nên tôi ngủ không được. Giữa đêm tôi thức dậy ngồi ngắm sao, định bụng thức tới gần sáng thì về. Một hồi sau bỗng thấy cô gái bật đèn thức dậy, thấy tôi vẫn thức nên cô ấy tiến lại hỏi:

Aia Trang: Anh vẫn còn thức sao?

Tôi: Vâng, chỗ lạ tôi ngủ không được.

Thấy vậy, cô gái cũng ngồi cạnh tôi, vừa ngắm sao vừa nói chuyện.

Aia Trang: Xin lỗi anh Yuen Pa nha, em thật không biết điều. Ân nhân nhờ giúp mà nỡ sao từ chối. Em nghĩ kỹ rồi, lỡ như lúc trước anh không thương hại bỏ qua thì chắc giờ em tiêu rồi.

Tôi: Không có gì, cô đừng khách sáo.

Aia Trang: Đừng gọi em là cô, em chỉ mới 17 thôi. Gọi em là em được rồi.

Tôi: À... em. Tôi thấy em hát hay lắm đó.

Aia Trang: Thật sao! Từ nhỏ em đã rất thích hát, cứ đi đâu vắng người là em lại hát miết thôi. Anh nói Tiếng Chăm cũng hay lắm đó, ai dạy anh vậy?

Tôi: Chủ của tôi, ở đây chúng tôi ai cũng được học Tiếng Chăm hết, để sau này còn hòa nhập với cộng đồng. Em này, em hát bài hồi chiều tôi nghe sao buồn quá, em vừa hát vừa nhớ ai chăng?

Aia Trang: Thấy nhiều người vợ bị mất chồng, nên ông em viết ra bài này. Có lẽ ông thấu hiểu được cảm giác của họ nên mới viết hay vậy, còn em á? em còn trẻ mà, có ai đâu mà nhớ!

Nói chuyện say sưa một hồi thì cô gái đứng dậy.

Aia Trang: Anh này, em phải đi thôi. Anh cũng nên ngủ đi, ở đây về sáng ma quỷ nhiều lắm đó, nhất là ma lai gớm giếc.

Tôi: Ờ, em đi đâu?

Aia Trang ngượng ngùng nói: Em nhịn nãy giờ rồi, em phải đi xíu.

Tôi: À.. tôi thật vô ý quá, thôi tôi ngủ đây.

Tôi nhắm mắt lại nhưng chưa ngủ, đến khi Aia Trang vào nhà rồi tôi mới ngủ thiếp đi.

Chẳng mấy chốc mà trời đã sáng. Tôi từ biệt hai ông cháu rồi đẩy xe nhanh về nông trại.

-Trần Kiên: Ồ, cậu lại về à, sao không trốn luôn đi?

-Tôi: Xin lỗi đại nhân. Chiều qua bán ế quá, mãi tới khuya mới hết hàng. Khi về thì cổng thành đã đóng, tại hạ có nói sao quan quân cũng không chịu mở cổng. Đành phải ngủ lại.

-Trần Kiên: Thật vậy sao? Thế tối cậu ngủ ở đâu?

-Tôi: Thưa đại nhân, tại hạ bán ngô ở đó đã lâu ngày nên một số người dân cũng biết tại hạ. Tối không về được, tại hạ xin ngủ nhờ thì họ cũng cho, không đòi hỏi gì ạ.

-Trần Kiên: Lại còn đặt điều à? Tôi thấy mến cậu mới tin tưởng giao việc. Cậu làm thế này tôi biết ăn nói sao với quan trên đây. Thôi từ ngày mai, cậu làm ở nông trại, không phải bán ngô nữa.

-Tôi: Đại nhân thứ lỗi ạ.

-Trần Kiên: Cậu có vẻ giật mình nhỉ? Có gì giấu tôi chăng? Mau nói ra hết.

Biết không thể giấu được, tôi đành nói hết sự thật với Trần Kiên.

Trần Kiên: Hahaha, lại có ý định gì với cô gái kia chứ gì. Cậu nghĩ tôi là người thế nào chứ, tôi không độc ác đến mức chia rẽ tình cảm của cậu. Nếu được thì cậu cứ tiến tới, tôi chờ ngày chúc phúc cho cậu. Nhưng nhớ, phải về đúng giờ đúng giấc. Tôi chỉ bỏ qua lần này thôi đó.

Tôi: Cảm tạ đại nhân!!

Những ngày sau, ngày nào tôi cũng được gặp Aia Trang. Có hôm tôi lôi kéo khách cho hai ông cháu, có hôm tôi lại qua nhà sửa sang nhà cửa rồi cùng ăn cơm, hai ông cháu quý tôi lắm. Ngày qua ngày tôi càng thêm say đắm Aia Trang, trái tim tôi đêm về thổn thức. Rồi một hôm, Trần Kiên thông báo:

-Triều đình lệnh cho tất cả anh em phải tham gia chiến dịch sắp tới. Các anh em không phải chiến đấu, chỉ phải vận chuyển lương thực.

Thời gian không còn nhiều, chiều hôm đó, bán ngô xong tôi lại đến nhà Aia Trang.

Aia Trang: Anh Yuen Pa lại đến chơi!

Tôi: Aia Trang ơi, tôi sắp phải đi rồi.

Aia Trang: Anh đi đâu?

Tôi: Sắp có chiến dịch sắp tới, tôi phải tham gia.

Aia Trang: Vậy sao.

Tôi: Có cái này, tôi muốn tặng em!

Tôi đưa Aia Trang cái áo tôi mới mua, nàng vui lắm.

Aia Trang: Cảm ơn anh Yuen Pa, hihi lần đầu tiên có người tặng em chiếc áo, em thích lắm!

Nhìn thấy nàng vui như vậy, tôi cũng vui lắm, cảm giác thanh thản tràn ngập trong lòng.

Tôi: Tôi phải đi rồi, tạm biệt Aia Trang.

Aia Trang: Anh.. nhớ quay về nha, em chờ!

Tôi không nói gì, chỉ nở nụ cười rồi bước đi.

Sau trận thua ở núi Aia Hu, quân Nguyên suy yếu đi nhiều, cho rút quân về Bal Sri Banoy, dựng lại thành gỗ chờ viện binh. Thấy quân Nguyên không còn mạnh, người Chămpa quyết tâm đánh bại quân Nguyên trong một trận quyết định. Lần này đích thân thái tử Harijit chỉ huy chiến dịch. Thái tử gửi một bức thư khích lệ toàn quân:

Xứ sở đang yên ấm bỗng nhiên người Nguyên kéo tới tàn phá kinh thành, giết người vô tội. Việc tàn bạo của chúng không ai là không biết.

Nhưng Chămpa không dễ gì bị khuất phục, đánh cho quân Nguyên đại bại phải rút về Cri Vinaya. Nhân viện binh giặc còn chưa tới, thái tử lệnh cho anh em chuẩn bị cho một trận quyết chiến, nếu thắng sẽ đánh đuổi được giặc ra khỏi bờ cõi. Các anh em thân mến! Chiến đấu vì chúng ta, chiến đấu vì tự do của con cháu, chiến đấu vì Chămpa trường tồn. Một lần vì mãi mãi. Chư thần và mẹ xứ sở luôn theo cạnh phù hộ các anh em.

Vì Chămpa!

 

*Bal Sri Banoy, Chămpa, 14/6/1283:

5 vạn quân Chămpa từ trên núi kéo xuống, quyết chiến với quân Nguyên tại Bal Sri Banoy.  Cảnh tượng thật kỳ vĩ, quân lính hai bên che khuất cả một khu vực rộng lớn. Quân Nguyên kéo ra ngoài thành, xếp thành những đội hình 1000 quân, hùng dũng tiến thẳng về phía quân Chămpa. Khi hai bên chỉ còn cách nhau vài chục mét, tướng Chămpa ra lệnh:

-Tướng quân: Vì Chămpa.

-5 vạn quân đồng loạt hô lên: Vì Chămpa.

Âm thanh rung động cả đất trời khiến quân giặc phải hoảng sợ.

-Tướng quân: Vì Chămpa.

-Một lần nữa, 5 vạn quân cùng ho to hơn trước: VÌ CHĂMPA!!!

-Tướng quân: Xông lên!!!

Tức thì, toàn bộ quân Chămpa đồng loạt lao lên như trận sóng thần dữ dội phá hủy mọi thứ cản đường. Ở đó, những sinh linh bị cuốn theo dòng xoáy lịch sử, phá hủy nhau như chưa bao giờ có thể cùng tồn tại.

Tuy chiến đấu quật cường, nhưng lần này quân Chămpa bị đánh bại. Thái tử Harijit lệnh toàn quân rút về núi cố thủ. Quân Nguyên tuy thắng nhưng lực lượng suy sụp trầm trọng, không còn khả năng đánh bại Chămpa. Toa Đô cho đốt Bal Sri Banoy, men theo bờ biển tiến lên phía Bắc chiếm cứ hồ Ndai Lan ở địa khu Indrapura. Y sai lính dựng thành bằng gỗ, tự làm đồn điền để tự túc, đồng thời nhiều phen cho người vượt biển đưa thư xin tiếp viện.

Một hôm mưa phùn suốt cả ngày. Trời âm u như tối sầm lại, những cơn gió thổi ríu rít càng làm tăng thêm cái lạnh não nề. Chỉ mình tôi bước qua cây cầu ấy, cây cầu qua hào sâu vào cổng thành gỗ. Có nhiều người đi qua cuộc đời tôi, ba mẹ, Khan Sy, Yan Sao, Trần Kiên… họ đến và đi chỉ để lại những ký ức mờ nhạt. Biết bao câu chuyện của những con người không được kể lại, không một ai nhớ về họ. Họ từng tồn tại rồi biến mất như chưa từng hiện diện trên cõi đời. Rồi mai sau, ai sẽ kể lại những câu chuyện này? Kể về những số phận bị cuốn theo dòng xoáy lịch sử.

Lê những bước chân vào thành, hôm nay sao trống vắng chẳng thấy một bóng người. Quân lính, người dân, họ đi đâu cả rồi?  Tôi nghe thấy tiếng khóc than ở mọi nơi nhưng không thấy ai hết. Tôi vẫn đi, một mình giữa gió lạnh và cơn mưa phùn, mong tìm lại chút ấm áp. Aia Trang! nàng còn đó không? Tiếng hát từ đằng xa chợt văng vẳng, đúng là nàng rồi. Nàng vẫn đang chờ, tôi tìm đến nhà Aia Trang, lòng thanh thản mỉm cười với khung cảnh trước mặt: Aia Trang mặc chiếc áo tôi tặng, chỉ một mình ngồi đàn hát trước sân nhà. Trên mắt nàng, từng giọt, từng giọt lệ rơi xuống.

 

Sao người đi

Chẳng nói tiếng chi

Để mình em

Đêm ngày trông ngóng

 

Nơi rừng sâu

Người ở chốn đâu

Em ngồi đây

Vẫn chờ người mãi

 

Champa nagara

Giờ quá xót xa

Biết ngày nao

Ta lại sum vầy…

 

Đến năm 1285 , quân Nguyên rút hoàn toàn khỏi Chămpa.

 

Hết

theo facebook.com

0
Total votes: 0
prancham
User not write anything about he.
Like (1)
Loading...
1
Lựu Hoàng Điệp
Đoạn cuối cùng sửa lại 1285 mới đúng!
1
1
August 16, 2017
prancham
Mới sữa lại rồi yut @Lưu Hoàng Điệp. Bài tiểu thuyết rất hay và tuyệt. Ndua karun yut ralo.
August 16, 2017
Lựu Hoàng Điệp
Thanks yut!
1
1
August 16, 2017

It will be interesting:

By: On August 13, 2017
0 Rating 313 views 0 likes 0 comments
Read more
By: On November 22, 2013
0 Rating 588 views 9 likes 0 comments
Read more