Linh Dang
by On January 31, 2014  in Bút ký - Truyện /
0 Rating 592 views 4 Likes 19 Comments

 Trên đời không thiếu câu chuyện chỉ nghe thoáng qua một lần và không bao giờ còn được nhắc đến.  Dẫu vậy, có những câu chuyện mà cứ phải nghe lại mãi dù đã thật xa xưa.  Một trong những câu chuyện ấy phải nói là của Huyền Trân công chúa, dù đã xảy ra hơn 700 năm về trước. Chuyện tình Huyền Trân công chúa đã được nhắc tới nhiều trong dân gian Việt Nam dưới nhiều góc độ nhìn khác nhau.  Người thì ca ngợi công chúa đã thay mặt triều đình nhà Trần thực hiện công tác ngoại giao, tạo hòa bình giữa hai nước đã thường xuyên tranh chấp với nhau lâu đời. Cũng có người tiếc cho công chúa xinh đẹp, lá ngọc cành vàng phải xa quê hương trao thân gởi phận cho người chồng xa lạ.  Về mặt tình cảm thì nhiều người thương tiếc, nhưng chuyện tình Huyền Trân cũng thường được hâm nóng lại và gây nhiều tranh cãi qua những bài viết đó đây.


 


Cách đây không lâu nhân chuyến đi họp xa tôi có dịp ghé thăm cộng đồng Việt Nam và nhận được tờ Viet Lifestyles Magazine số 31 đem về khách sạn. Nhưng cho đến khi ngồi trên chuyến bay trở về tôi mới có thì giờ mở ra lật từng trang và bắt gặp bài “NHỚ VỀ HUYỀN TRÂN CÔNG CHÚA” của Mường Giang từ Hạ Uy Di.  Viết về công chúa Huyền Trân, cả chính sử và dã sử đã tốn khá nhiều giấy mực để luận “công” và “tội” của nàng.  Nhưng đây là một bài viết mà theo tôi là rất trung thực, tác giả ghi lại câu chuyện tình xa xưa và cố trình bày sự thật cách rõ ràng theo như mình tìm hiểu được.  Ông cũng đưa ra những lời nhận định chân tình của một người cầm bút, không thiên lệch nhưng rất công tâm khi xét về lý lẽ và sự kiện đã xảy ra trong lịch sử. Ca dao Việt Nam có câu:


Có con mà gả chồng gần,


Có bát canh cần nó cũng đem cho.


                                


Về việc vua Trần Nhân Tông hứa gả công chúa yêu quý nhất của ngài cho vua Chế Mân xa xứ, theo tác giả Mường Giang thì “cũng không ngoài việc anh hùng trọng anh hùng, qua cái tư cách hào hoa mã thượng của nhà vua trẻ này đã thể hiện vào năm 1283, vua Chế Mân đã lãnh đạo quân dân Chiêm Quốc chống lại quân Mông Cổ khi chúng xâm lăng nước này.”


 


Đọc Việt sử tới những trang viết về cuộc tình của Huyền Trân công chúa và vua Chế Mân, không hiểu là tại sao bên lề câu chuyện chính sử lại có kèm theo những câu ca dao không rõ xuất xứ này:


 


Tiếc thay cây quế giữa rừng,


Để cho thằng Mán, thằng Mường nó leo.


 


Khác với câu ca dao trên, có thể nói vua Trần Nhân Tông là người hiểu rõ về cốt cách và tài năng của Chế Mân.  Ông chẳng những là một vị anh hùng có tài thao lược, mà lại còn là một vị vua có lòng hiếu khách nữa.  Năm 1301 khi Trần Nhân Tông đặt chân đến kinh đô của vương quốc Champa để tận mắt chiêm ngưỡng những ngọn tháp nguy nga tráng lệ ở đây, thì chính Chế Mân long trọng đích thân đến mời ngài vào cung điện của mình đón tiếp và dẫn đi du ngoạn khắp các đền đài.  Nên trong gần chín tháng lưu lại nơi đây, đến ngày về, cảm động trước tấm thịnh tình của Chế Mân, nhà vua đã hứa gả cô công chúa xinh đẹp của mình là Huyền Trần cho vua xứ Vijaya.  Hôm ấy trên không trung trong lòng máy bay giữa bầu trời cao ngất, đọc xong bài viết của tác giả Mường Giang, tôi ngồi chiêm nghiệm lại những bài viết mà mình đã từng đọc trước đây cũng về cùng một câu chuyện mà không ít băn khoăn.  Trong ấy có những bài viết mà tác giả chỉ muốn nói lên sự thật như một bài học lịch sử, một số bài viết thì tác giả muốn đi tìm sự thật với những câu hỏi chân tình về những điều bí ẩn bên trong.  Dẫu vậy, cũng có những tác giả đã không nhẹ tay chút nào khi phóng ra nét bút của mình trên trang giấy, nặng lời kết án không chỉ những nhân vật trong câu chuyện mà còn lây lan đến làm đau lòng cho cả một dân tộc cách không thương xót.


 


Dĩ nhiên, trong chúng ta không ai có thể thay đổi được quá khứ.  Điều mà mỗi chúng ta có thể, ấy là cùng nhau làm cho ngày mai tốt đẹp hơn.  Chuyện Huyền Trân công chúa phải nói là đã xảy ra vào một giai đoạn lịch sử mà ngày hôm nay nhắc lại làm cho mỗi chúng ta ngậm ngùi và hối tiếc.  Đối với người Việt, thì không ít người xót xa cho một Huyền Trân vì chữ hiếu mà đành phải xa quê để đi lấy một người xa xứ.  Nên người sau cảm thông nỗi niềm ấy mà trút cạn lòng mình trong lời ca bi thiết:


 


Nước non ngàn dặm ra đi,


Mối tình chi.


Mượn màu son phấn,


Đền nợ Ô Ly.


Xót thay vì,


Đương độ xuân thì…


 


Đối với người Chăm, thì lại tiếc thay vì một Huyền Trân mà mảnh đất thân thương là hai châu Ô và Lý đành phải vĩnh viễn lìa xa đất tổ.  Hoàng Thái Xuyên viết:


 


Hai châu Ô Lý vuông nghìn dặm,


Một gái Huyền Trân đáng mấy mươi…


 


Việc gả công chúa Huyền Trân cho Chế Mân đã khiến quần thần trong triều Việt xôn xao bàn tán, và dĩ nhiên việc dâng hai châu Ô và Lý làm sính lễ cũng không tránh khỏi nhiều sự bất bình trong thần dân Champa.  Cuộc hôn nhân này quả là một thiên bi hài kịch, gây hệ lụy đau buồn cho nhiều người qua nhiều thế hệ.  Nên những người cầm bút dù là một sử gia, hay là một văn nghệ sĩ muốn mượn câu chuyện tình này làm nguồn cảm hứng để cảm tác một bài thơ, sáng tác một dòng nhạc hay dựng nên một tác phẩm thì cũng hãy nên lấy công tâm mà viết.  Đây là câu chuyện tình lịch sử có liên quan đến hai nước láng giềng khi xưa và hai dân tộc đang sống với nhau trong cùng một cộng đồng bây giờ.  Nên khi viết đừng theo trí nhớ mà diễn đạt, nhưng cần phải tra cứu lịch sử để khi dệt thành văn nó trở nên giá trị đem lại bài học lịch sử cho mọi người, chứ không thì theo trí nhớ mà sai lệch sẽ đem lại nhức nhối cho nhiều người.  Hơn nữa khi viết phải ý tứ trong cách dùng từ, vì đây là một vấn đề nhạy cảm.  Dù sao dân tộc Chăm một thời là thần dân của một vương quốc rất oai hùng đã bị mất, và nay đang sống chung trong cộng đồng của một đất nước Việt Nam.  Từ khi mất nước dân tộc Chăm đã từng sát cánh với dân tộc Việt chiến đấu trong nhiều cuộc chiến khác nhau, cùng gắng công xây dựng một nước Việt Nam vững mạnh thời trước 1975.  Bây giờ một số đã cùng bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình để cùng đoàn người dân Việt ra đi lưu lạc khắp phương trời, và nơi ấy họ cũng cùng chung sinh hoạt sát cánh với người Việt để xây dựng một cộng đồng hải ngoại vững mạnh ở xứ người.  Còn những ai đang ở lại quê nhà, thì họ cũng đều chịu chung số phận với muôn triệu người Việt khác ở trong cùng hoàn cảnh.  Nên hãy quan tâm đến nhau, giúp đỡ lẫn nhau, dùng ngòi bút đem lại sự cảm thông để hóa giải những bất đồng.  Hầu có thể cùng kéo nhau lại gần hơn nữa trong cuộc sống bươn bả ở quê người, hay là cuộc sống lo âu ở quê nhà.  Chúng ta cần có nhau, người Chăm hay là người Việt, dù ở bất cứ đâu trên quả địa cầu.  Thật chúng ta từ ngàn xưa có những bắt đầu khác nhau, tổ tiên chúng ta sinh ra không cùng chung một vùng địa lý.  Nhưng rồi thì theo cái vận chung của thời cuộc, Trời đã xui cho hai dân tộc cùng sống chung với nhau như láng giềng trên chung một mảnh đất, nên không chi tốt bằng là hãy sống vui khỏe bên nhau để cùng chung hưởng những tốt đẹp mà Trời đã ban cho mỗi chúng ta./.

0
Total votes: 0
Linh Dang
User not write anything about he.
Tawziew
(.131)'Bảng tiếp theo':..., mà thư tịch Trung quốc gọi là Đại Châu . Từ trong vịnh Quy nhơn , có thể theo cửa các nhánh sông" 5 cánh nhỏ " để tiến về phía vijaya, phía tây của vịnh, tức là trong đất liền , Quân Chàm đã xây dựng Thành gổ để ngăn chặn Quân nguyên tiến về phía Kinh Đô . KHI DẶT CHÂN LÊN ĐẤT CHIêm Thành , Đoàn quân của Toa Đô đóng ở bờ biển Quy nhơn(1) . Từ nGÀY 30/11 (31/12/1282), QUÂN CHÀM TĂNG CƯỜNG VIỆC PHÒNG THỦ Ở THÀNH GỔ (2). 4 MẶT THÀNH GỔ DÀI KHOẢNG HƠN 2O DẶM , TRÊN DỰNG NHỮNG GIÀN GÁT(LAU BẰNG) . ĐẶT HƠN 100 CỔ PHÁO HỒI- hồi BA CẦN(3), Ở PHÍA TÂY CÁCH THÀNH GỔ Q0 DẶM ...
______________
_g/c- (1)- kinh thế đại điển tự lục , như trên. Ngute6n sử q.219 . Chiêm Thành tuyện, t4 h .
(2)- kinh thế đại điển tự lục(bang3 đã dẫn trang 570) chép ;" bắt đầu từ ngày 30(31/12/1282), quân Chiêm Thành dựng Thành gổ "( ng,sử Chiem Thành đã chuẩn bị chiến đấu từ trước chớ không thể sau khi quân nguyên đến mới dựng Thành nênta cho rằng ngày 30, quân Chiêm CHỈ TĂNG CƯỜNG THÊM VIỆC PHÒNG THỦ Ở ĐÂY, CÓ THỂ LÀ THÊM THÀNH LŨY CHO KIÊN CỐ THÊMHO7N,CHU71 THÀNH ĐÃ CÓ từ trước khong phải đến ngày 30 mới bắt đầu xây dựng .
(3)-
Tawziew
(3)- nguên văn trong kinh thế đại điển tự lục ( nguyên van loại q 41, bản đã dẫn trang 570 và nguyên sử. 210 Chiêm thành tuyện t. 4b là" Hồi hồi tam sảo pháo "... có người dịch súng" Hồi hồi ba ngòi"nói đến súng Hồi hồi ba ngòi là nói đến vũ khí xạ kích có nòng kim loại và dùng thuoc61 nổ . P.Pelliot cũng cho rằng " Hồi hồi pháo" (p'aomusunlmans) là đại bác '(can non) có dùng thuốc nổ((.pelliot: mémoires sur les coutumes du Cmbodge de T chheou Tacouan, Paris 1951 p.118).thưc ra không phải như vậy ( chử pháo thời Tống ) nguyê là hỉ máy bắn đá , đến giửa đời Minh mới dùng "chử pháo" với nghĩa là hỏa khí xạ kích hình óng như trong vũ kinh tổng lục ( tăng ông lươnng và một số người khác sọa năm 1044.
____________________
●●● THÀNH GỔ Q0 DẶM LÀ HÀNH CUNG ỦA VUA HIÊM ; Indravarman tự đem đại quân đóng ở đây x9e63 ứng viện cho đội quân Chiêm thành ở Thành Gổ(1)
Tawziew
●●● Thành vổ 10 DẶM LÀ HÀNH cung của vua CHIÊM . INDRA-VARMAN TỰ ĐEM ĐẠI QUÂN ĐÓNG Ở ĐÂY ĐỂ ỨNG VIỆN CHO Quân chàm ởTHANH2 GỔ(1) ,TINH2 HÌNH BỐ PHÒNG như vậy đã nói lên quyết tâm chiến dấu của người Chàm.
. TRƯỚC KHI TẤN CÔNG vào đồn lủy của CHIÊM THÀNHCUNG4 NHƯ TRONG TẤT CẢ MỌI cuộc chiẾN TRANH XÂM LƯỢC KHÁC, BỌN TƯỚNG NGUYÊN ĐÃ SAI xứ DỤ HÀNG , BỌN CHÚNG TƯỞNG RẰNG BINH LỰC MẠNH mẼ CỦA MÌNH CÓ THỂ LÀM CHO ĐỐI PHƯƠNG KHIẾP SỢ ,NHU7NG ĐÔ TRẤN PHỦ LÝ THIÊN HỰU VÀ TỔNG BẢ GIẢ PHỦ THEO LỆNH CỦA TOA- ĐÔ 07 LẦN ĐẾN GẶP GẶP VUA CHIÊM , 07 LẦN THẤT BẠI TRỞ VỀ(2). QUÂN DÂN CHIÊM THÀNH KHÔNG ĐỜI NÀO CHỊU HẠ VŨ KHÍ trước kẻ thù . SAU KHI BỌN LÝ THIÊN HỰU VÀ GIÃ PHỦ ĐI XỨ KHÔNG CÓ KẾT QUẢ , TÊN XƯQ NGUYÊN ĐI CHIÊU DỤ NƯỚC CHÂN- LẠP LÀ XU- LAI MAN (SALAYMÃN) XIN TOA- ĐÔ ĐI DỤ HÀNG VUA CHIÊM LẦN NỬA (3). NGÀY 18/12(18/1/1283) XU- LAY- MAN CÙNG VỚI LÝ- THIÊN - HỰU GIẢ PHỦ LẠI ĐẾN DOANH TRẠI VUA HIÊM NHƯNG BỌN NÀY CHỈ mang được về bức thưcua3 IN DRA- VARMAN TRẢ LỜI RẰNG ĐÃ XÂY DỰNG THÀNH- GỔ, CHUẨN BỊ GIÁP BINH , HẸN NGÀY QUYẾT CHIẾN (4) .
. TRƯỚC THÁI ĐỘ BẤT - KHuấT VÙA CHIÊM- THÀNH , TOA- ĐÔ CHẦN CHỪ CHƯA DÁM TIẾN QUÂN . MÃI ĐẾN NGÀY 15 THÁNG GIÊNG nămQUY1 VỊ ( CHI NGUÊN 20 ,13-21283). TOA ĐÔ MỚI RA lỆNHCHO BINH THUYỀN XUẤT PHÁT . VÀO NỬA ĐÊM, QUÂN NGUYÊN CHIA RA LÀM 2 MŨITIE6N1 VỀ PHÍA THÀNH - GỔ CHIÊM- THÀNH, MŨI THỨ 1 DO AN PHỦ XỨ QUỲNH CHÂU TRẦN TRỌNG ĐẠT, TỔNG QUẢN LƯU KIM, TỔNG BẢ LẬT TOÀN CHỈ HUY . ĐEM 1.6OO BINH ĐI THỦY CHIẾN tiến vào PHÍA BẮC THÀNH GỔ. MỦI THỨ 62 DO TỔNG BẢ TRƯƠNG BÂN, BÁCH HỘ TRIỆU PHÙNG(1) CHỈ HUY , ĐEM 300 QUÂN ĐÁNH VÀO ĐỒI CÁT PHÍA đông . CÒN MUI CHỦ YẾU DO TOA- ĐÔ CHỈ HUY GỒM ; 3.000 Ngàn quân ,CHIA LÀM 3 ĐƯỜNG(2). TẤN CÔNG VÀO MĂY5 NAM THÀNH GỔ . QUÂN NGUYÊN PHẢI VẬT LỘN VỚI SỐNG GIÓ CHO TỚI SÁNG MỚI VÀO ĐƯỢC TỚI BỜ, SỐ THUYỀN BỊ VỞ MẤT ĐẾN 7,8 PHẦN 10(3).
. GIẶC VỪA TỚI QUÂN CHĂM LIỀN MỞ CỬA NAM THÀNH GỖ RA NGHÊNH CHIẾN . CỜ TRƯƠNG TRỐNG THÚC, MẤY CHỤC VOI VÀ HƠN VẠN NGƯỜI HÙNG DŨNG XUẤT TRẬN(4). QUÂN CHĂM CŨNG CHIA LÀM 3 ĐẺ ĐỐI PHÓ VỚI 3 ĐỘI QUÂN MẶT NAM NÀY CỦA TOA - ĐÔ . TÊN QUA ĐẠN LẠI TRẬN ĐÁNH DIỄN RA MỖI LÚC MỘT ÁT LIỆT, QUÂN CHĂM CHID6N1 ĐẤU RẤT DŨNG CẢM , SUỐT BUỔI SÁNG THẾ GI8ng2 CO VẪN DUY TRÌ NHƯNG ĐẾN TRƯA QUÂN CHĂM KHÔNG GIỮ VỮNG TRẬN THÊ , CỬa NAM BỊ VỞ, CÁNH QUÂN TO- ĐÔ TRÀN VÀO .TỪ BÊN trONG CÁNH QUÂN NÀY ĐÁNH RA PHỐI HỢP GIỬA HAI CÁNHPHIA1 BẮC VÀ PHÍA ĐÔNG. CHẴNG MẤY CHỐC QUÂN NGUYÊN HOÀN TOÀN THẮNG THẾ . MẤY NGIN2 NGƯỜI CHàm BỊ HY SINH . QUÂNGIU74 THÀNH và TIẾP LƯƠNG ĐẾN MẤY VẠN NGƯỜI ĐỀU RÚT LUI(1) .THÀNH GỖ LỌT VÀO TAY GIẶC.
Tawziew
g/c- hỏa pháo cũng chỉ là một loại máy bắn đá, bắn các chất cháy ( L. Carrington Goodrich anh fêng-shêng: The Early Development Fiirems in China trong Isis, vot. XxxVI. pt 2. N° 104. Jan 1946; phùng - gia Thăng: Hỏa được đích phát minh hòa tay tuyền, Hoa đông nhân dân suất bản xã, 1954) " Hồi hồi pháo" cũng là một loại máy bắn đá, " Hồi hồi pháo " còn gọi là"Tây vực pháo" hay "Tương- dương- pháo" trong các thư tịch Đời nguyên vì loại "pháo" này do những người hồi giáo ở Tây Á chế tạo và dùng trong khi quân Mông- Cổ vây Tương- dương của Nam- Tống theo nguyên sử q.203 A Lão- Ngõa - Đinh tuyện và Diệt- Mã- nhân t...5b- 6a , thì năm 1271. Hốt- Tất- Liệt đã sai ߘx¡۩ đến Ba-tư , bấy giờ dưới quyền thống trị dưới Hãn Mông- Cổ A-Ba- Ga( ABAGA) dể mời một số thợ chế"pháo" , Abaga đã cử 2 người Hồi giáo là ; A- la- ut- Đin (Alaud-Din, A- Lão- ngõa Đin) va I-xma-In( Isma'il, Diệc- tư- mã - nhân) Đến Đại đô (Bac81 Kinh) coi việc chế tạo pháo . Những cổ " pháo Hồi hồi " này được dùng trong đợt tấn công Trương- Dương và Phàn - Thành. Theo nguyên sử quyển 7 , bản kỉ, t10b-11a thì tháng 12 nằm 1272 " người Hồi hồi là Diệc- tư- Mã- nhân(Isma'il) sáng chế "cự thạch pháo" đem dâng dùng ít sức mà bắn rất xa Vua sai dùng ở mặt trận Tương- dương", "Hồi hồi pháo" là "cự thạch pháo" nghĩa là pháo bắn những viên dá lớn. Theo Diệc- tư - mã - nhân tuyện thì những viên dáp đó nặng 150 cân và chìm xuống đất 7 thước ,( nguyên sử quyển 303 t. 6a) . Trịnh tư Tiêu(1239_1316) trong tâm sử( q. 2 t. 71a) có mô tả "Hồi hồi pháo" . Ông nói rằng Hồi hồi pháo được chế tạo ở các nước HỒI- hồi( Hồi giáo), và ó sức công phá hơn " pháo " thường . Các dàn làm bằng những khúc gổ lớn đóng xuống đất . Những viên đá bắn đi lớn mấy thước và khi rơi xuống và chôn sâu đến 3_ 4 thước " , như vậy. " Hồi hồi pháo" rõ ràng là máy bắn đá , chưa phải là súng có nòn kim loại và thuốc nổ" sảo" là cần gổ đặt trên giá, các viên đạn treo vào đấy. Vũ kinh tổng yếu tiền tập (cua3 Tăng- Tông lượng đời Tống , bản in niên hiệu chinh - đức '1506_1522' đời Minh ó vẽ những " Đơn sảo pháo" . "Song sảo pháo" , "ngụ sảo pháo "' q, 12, t592 ) chép rằng quân Nguyên có pháo " 15 sảo" , " 9 sảo" , " 7 sảo , "5 sảo ", " 3 sảo". Người Chàm giờ có pháo "Hồi hồi"có lẻ là do buôn bán với người Á- Rập .
. Kinh thế đại điển tự lực, bản đã dẩn, t.570. Nguyên sử q. 210 Chiêm- Thành tuyện, t14b.
. (1)_ như trên ...
. (3)_ nguyên sử quyển 210 Chiêm Thành tuyện t.4b. Tên viên sú đi Chân Lạp Chiêm thành tuyện phiên âm là Tốc- lỗ- mạn tức Sulaymãn , đấy là một tên Hồi giáo .
. (4)_ nguyên sử q. 210, Chiêm-Thành tuyện t, 4b.Chie6m - Thành tuyện không chép rõ ngày , đây là theo kinh thế đại điển tự luc, bản dã dẫn , t. 570 .
. ÷÷÷÷÷÷÷÷÷÷. g/c_ phần dưới《Thành phố này là cứ điểm...》
. (1)_ kinh thế đại điển tự lục dap4 dẫn . t.570 chép là(...); nguyên sử quyển 210 Chiêm Thành tuyện. t4b . Chép là Đại(...)
. (2)_ kinh tế đại điển tự lục chép là 2 đường , Chiêm- Thành tuyện chép là 3 đường. Chúng tôi cho rằng Chiêm- thành tuyện chép đúng vì sau này quân Chàm cũng chia làm 3 đội ứng chiến .
. (3)_ theo kinh thể đại dien63 tự lục đã dẫn và nguyên sử q. 210 Chiêm- Thành tuyện đã dẫn . Quân Nguyên đã tiến quân dường thủy để tấn công . Có lẻ Quân NNguye6n đóng ở vùng Quy- Nhơn và đã cho thuyền tiến trong vi h5 Quy nhơn, lên phía Bắc để đánh vào các mặt Thành Gổ.
. (4)_ Đây là theo kinh thế đại điển tự lục à guyên sử; Chiêm- Thành tuyện q. 129 , Toa- Đô truyện 7b. Chép là 20 vạn , hẳn là phóng đại đề cao quân Toa- đô ...( g/c _ này là phần của trang trước v2 sau: ... Thành gổ này là cứ điểm đầu tiên của Người Chàm đồng thời cũng là ...)
. ÷÷÷÷÷÷÷÷÷÷.
G/c_ ( doạn trang : Thành gổ này... )
.( 1)_ theo kinh thể đại điển tụ lục và nguyên si73 Ciêm Thành truyện thì mấy vạn quân Chăm tan vỡ hết , nhưng căn cứ vào chổ sau này lực lượng kháng chiến của Chiêm- Thành phục hồi nhanh chóng ,chúng ta có thể suy đoán rằng ở trận này , sau lúc giao tranh quyết liệt, thấy đuối sức. Quân Chiêm đã rútlui chớ không phải hoàn toàn thất bãi hết.
. (2)_ Đoạn này theo kinh thế đại lục , bản đã dẩn , t.570. nguyên sử quyển .210 , Chiêm Thành truyện t, 4b.
. ÷÷÷÷÷÷÷÷. G/c _ đoạn: vua Chiêm sai sứ ...vua Chiêm sai cậu là Bảo - thoát - Thốc...
. (01_ Trong chương này có một số tên Chàm ( không khôi phục được nguyên văn ) đành để nguyên tên phiên âm của thư tịch T. Quốc , đọc theo âm hán Việt ..
. (2)_ theo kinh thế đại điie6n3 tự lực , bản đã dẩn t,571.7
. (3)_ kinh thế đại dien63 tự lực bản đã dẫn , t. 571 chép "quân ta lại đóng ở ngoài Thành", nguyên sử ,q .210 , Chiêm Thành t. trang 4b.cung4 chép " Quang- quân lại đóng ở goài Thành "
. (4)_ từ Đỉnh sứ Nam Tống đi Mông Cổ đã ghi lại trongHa8c1 thật sự lược rằng ; " thấy người Thái tức tức người Mông-Cổ (T_G) chưa hề đồn trú trọn binh ở trong Thành , đi qua các quận huyd6n5 phía Nam và phía Bắc sông Hoàng hà , trong Thành tuyệt không có một tên lính , chỉ ở ở thôn xóm ngoài Thành là có người ngựa canh gác ,Quan6 đóng rãi rác . Nếu thấy động gió bụi nổi lên, thì kị binh canh gác gọi nhau , sục sạo bốn phía, nếu biết được sự thật thì cấp báo cho đầu mục"( bản in Giang- Tố903, t9b.).
. ÷÷÷÷÷÷÷÷÷÷÷
. G/c cho ( ...Vua Chiêm sai cậu là: B.T.H... năm của Vua Chiêm.ong6 nói"trước kia [Vua Chiêm]
. (1)_ G Maspero đoán là tên tiếng phạn Bhadradeva(Le Roy-aume de Champa; t. 179 nhưng chúng tôi không thấy chắc chắn lắm.
. (2)_ theo kinh thế đại điển tự lục . Nghuyênsu73 Chiêm thành truyện chép là 200 tấm
. (3)_ kinh thế đại điển tự lục đã dẫn,t. 571, nguyên sử q.210 , Chiêm Thành truện , t5a.
. (4) theo k.T.D.D.T.L, còn nguyd6n sủi Chiêm Thành truyên không chép rõ ngày .
. (5)_ nguyên sử q.210 Chiêm Thành truyện t.5a chép tên người thứ 4 của Vua Chiêm Thànhla2 Lợi ThếMa- Bát- Đô Bát- Đức Thích ......... kinh thế đại điển tự lục bản đã dẫn, t.571 chép chử đức( )làm chử đích ( )ten6 gười con thứ 5 thì Chiêm Thành truyện
Tawziew
... chép là Thế- lợi ấn- đức thích ..... kinh thế đại điển tự lục lại chép là lợi - thế- ấn -đức- thích , chúng tôi cho rằng tất cả những chử ... điếu là chép nhầm từ chử Lạt... và như vậy tên người con thứ năm theo Chiêm - Thành tuyện phải là Thế- Lợi Ấn- đức lạt, chúngta thấy đâ là phiên âm tên tiếng phạn Crì indra. Kinh thế đại điển tự lục chép T
hế Lợi thành lợi thế là nhầm, và như vậy tên người con thứ tư bất đầu cũng là Thế- Lợi cũng không phỈ là lợi thế . Ba chử cuối , Bat- Đức- lạt có thể nhận được là do phiên âm tiếng Phạn Bhdra. Ba chử giữa, chưa rõ. Như vậy tên người con thứ tư là Crì[Ma- ba- Tu]Bhadra.
. (1)Kinh - thế - Đại điển - tự lục, t. 571, nguyên sử q,240, t 5a.
_____________
Like (4)
Loading...
4
Tawziew
(.131)'Bảng tiếp theo':..., mà thư tịch Trung quốc gọi là Đại Châu . Từ trong vịnh Quy nhơn , có thể theo cửa các nhánh sông" 5 cánh nhỏ " để tiến về phía vijaya, phía tây của vịnh, tức là trong đất liền , Quân Chàm đã xây dựng Thành gổ để ngăn chặn Quân nguyên tiến về phía Kinh Đô . KHI DẶT CHÂN LÊ...View More
Tawziew
(3)- nguên văn trong kinh thế đại điển tự lục ( nguyên van loại q 41, bản đã dẫn trang 570 và nguyên sử. 210 Chiêm thành tuyện t. 4b là" Hồi hồi tam sảo pháo "... có người dịch súng" Hồi hồi ba ngòi"nói đến súng Hồi hồi ba ngòi là nói đến vũ khí xạ kích có nòng kim loại và dùng thuoc61 nổ . P.Pellio...View More
Tawziew
●●● Thành vổ 10 DẶM LÀ HÀNH cung của vua CHIÊM . INDRA-VARMAN TỰ ĐEM ĐẠI QUÂN ĐÓNG Ở ĐÂY ĐỂ ỨNG VIỆN CHO Quân chàm ởTHANH2 GỔ(1) ,TINH2 HÌNH BỐ PHÒNG như vậy đã nói lên quyết tâm chiến dấu của người Chàm.. TRƯỚC KHI TẤN CÔNG vào đồn lủy của CHIÊM THÀNHCUNG4 NHƯ TRONG TẤT CẢ MỌI cuộc chiẾN TRANH XÂM...View More
Tawziew
g/c- hỏa pháo cũng chỉ là một loại máy bắn đá, bắn các chất cháy ( L. Carrington Goodrich anh fêng-shêng: The Early Development Fiirems in China trong Isis, vot. XxxVI. pt 2. N° 104. Jan 1946; phùng - gia Thăng: Hỏa được đích phát minh hòa tay tuyền, Hoa đông nhân dân suất bản xã, 1954) " Hồi hồi ph...View More
Tawziew
... chép là Thế- lợi ấn- đức thích ..... kinh thế đại điển tự lục lại chép là lợi - thế- ấn -đức- thích , chúng tôi cho rằng tất cả những chử ... điếu là chép nhầm từ chử Lạt... và như vậy tên người con thứ năm theo Chiêm - Thành tuyện phải là Thế- Lợi Ấn- đức lạt, chúngta thấy đâ là phiên âm tên ti...View More

It will be interesting: