• Facebook
  • Yahoo
  • Google
  • Live
  • Google
  • Twitter
ranam
by On December 28, 2012
1.4k+ views

CHUYÊN ĐỀ


LỊCH SỬ VÀ VĂN HÓA CHĂMPA, PHÙ NAM


DÀNH CHO K32 CỬ NHÂN LỊCH SỬ


Số ĐVHT: 2 (30 tiết)


* Mục đớch, yêu cầu:


- Cung cấp cho sinh viên những kiến thức cơ bản về nguồn gốc và quá tŕnh lịch sử, văn hóa của Vương quốc Chămpa và vương quốc Phù Nam, những thành tựu, thành tố của văn hóa Chămpa, Phù Nam, vị trí của nó trong tiến tŕnh lịch sử văn hóa Việt Nam.


A. Lịch sử nghiên cứu vấn đề.


Cuối thế kỷ XIX, những khám phá của khảo cổ học và việc tiếp xúc với bi kư ChamPa đă gây nên sự chú ư của các nhà nghiên cứu về lịch sử ChamPa và những lĩnh vực khác liên quan đến lịch sử. Thư mục của P.D.Lafont và của Lương Ninh (1992) đă cho biết con sè Ưt nhất là hơn 1000 tài liệu.


Những học giả người Pháp là những người đầu tiên nghiên cứu lĩnh vực này. Có thể kể đến những nhà nghiên cứu xuất sắc trong các kĩnh vực khác nhau. Abel Bergaigne, E.Aymonier, L.Finot nghiên cứu về văn bia; E.M Durand nghiên cứu về dân téc học; về khảo cổ học có J.Y.Claeys và về nghệ thuật có H.Parmentier, và sau ông là Ph.Stern, Jean Boisselier…Trong lĩnh vực lịch sử, năm 1911, G.Maspero xuất bản cuốn Vương quốc cổ ChamPa. Đây là tác phẩm duy nhất viết về lịch sử ChamPa từ đầu cho đến năm 1471. G.Maspero viết lịch sử ChamPa theo vương triều, trong đó ông có đề cập đến những xung đột quân sự giữa ChamPa với các nước xung quanh như là một biểu hiện về tính hiếu chiến của người Chàm, mà ông giải thích là do những hạn chế về điều kiện tự nhiên. Có thể nói đây là một tài liệu có giá trị cao về mặt tư liệu, đặt nền móng cho việc nghiên cứu lịch sử ChamPa. Sau G.Maspero, J.Leuba viết Một vương quốc đă bị diệt vong – người Chàm và dân téc Chàm. Tác giả dựng lại lịch sử ChamPa và chủ yếu là lịch sử quan hệ để tŕnh bày quá tŕnh điệt vong của vương quốc cổ này. Một cách lư giải c̣n phiến diện, nhưng cũng chính v́ vậy mà tác phẩm chỉ đề cập đến những quan hệ về chiến tranh mà chủ yếu là quan hệ chiến tranh giữa ChamPa với Trung Quốc và Đại Việt.


Năm 1944, G.Codes đề cập đến lịch sử ChamPa trong khuôn khổ của một tác phẩm viết chung về lịch sử cổ đại ở các nước Viễn Đông chịu ảnh hưởng của nền văn minh Ên Độ. Ba năm sau, R.Stein công bố những nghiên cứu của ḿnh về thời kỳ đầu của ChamPa qua tác phẩm Nước Lâm Êp, vị trí và sự đóng góp của nó vào sự h́nh thành ChamPa và các quan hệ của nó với Trung Quốc. Trong đó, Stein đă tŕnh bày sự h́nh thành của Lâm Êp (Lin Yi) cổ đại và “sự tiến triển từ Lâm Êp đến ChamPa”, phân tích và chứng minh cả về mặt lịch sử  và về mặt ngôn ngữ. Sự nghiên cứu này đwocj bổ xung vào năm 1958 bởi Wang GungWu trong công tŕnh Nghiên cứu  về lịch sử cổ đại của con đường thương mại Trung Hoa ở biển Nam Trung Quốc. Có thể coi đây là tác phẩm đầu tiên đề cập đến con đường thương mại của Lâm Êp trong những thế kỷ đầu công nguyên.


Ở Việt Nam, nghiên cứu về ChamPa không c̣n là một vấn đề mới mẻ. Đă có nhiều thế hệ học giả quan tâm nghiên cứu, đặc biệt trong lĩnh vực khảo cổ học. Hai thập niên cuối của thế kỷ XX, việc nghiên cứu di tích văn hoá vật chất đă đạt được những thành tựu đáng kể. Thông báo hàng năm của Viện Khảo cổ học luôn có những báo cáo mới, những kết quả nghiên cứu mới. Đây có thể coi nh­ là những tài liệu gốc, mang tính cập nhật cao được sử dụng trong Luận văn.


Việc nghiên cứu ChamPa dưới góc độ dân téc học, nghệ thuật, văn hoá cũng đă đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Các công tŕnh nghiên cứu như Văn hoá ChamPa của Ngô văn Doanh, Văn hoá Chăm của Phan Xuân Biên và các cộng sự, Du khảo Văn hoá Chăm của Ngô Văn Doanh…đă trở nên khá quen thuộc.


          Tại hội nghị ChamPa tổ chức tại Coopenhagen (23 tháng 5 năm 1987), trong báo cáo của ḿnh, B.P.Lafont đă nêu tóm tắt một số quan điểm của ông về mối quan hệ giữa ChamPa và các nước Đông Nam á. Nhiều mối quan hệ trên các lĩnh vực đă được ông đề cập tới và gợi ra những vấn đề thó vị, những hướng nghiên cứu theo chủ đề này. Tuy nhiên, dường như ông có phần cực đoan khi đánh giá quan hệ giữa ChamPa với Đại Việt chỉ đơn thuần là quan hệ chiến tranh và dẫn đến sự triệt tiêu về mặt văn hoá .


          Anthony Reid cũng bàn đến vấn đề “ChamPa trong hệ thống thương mại biển Đông Nam á”, đề xuất một thể chế chính trị đa trung tâm ở ChamPa giống nh­ các vương quốc của người Nam Đảo vùng hải đảo. C̣n K.Hall th́ dành chương VII trong công tŕnh nghiên cứu của ḿnh là Thương mại biển và t́nh trạng phát triển của Đông Nam á cổ đại, thống kê những sản phẩm thương mại của ChamPa trong thư tịch cổ Trung Quốc và nhấn mạnh tầm quan trọng của vị trí bờ biển ChamPa đối với nền ngoại thương khu vực. Ngoài ra, dùa trên cơ sở sử liệu Trung Quốc và Việt Nam viết về tính hiếu chiến, giỏi thuyền chiến, thường xuyên cướp bóc Đại Việt từ đường biển của người Chàm, K.Hall c̣n cho rằng ở ChamPa cả nông nghiệp và mậu dịch đều không làm cho vương quốc giàu lên được, v́ thế mà vương quyền phải dùa trên hoạt động cướp bóc, và ông gọi ChamPa là một “quốc gia hải tặc”.


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


 


CHƯƠNG I:


KHÁI QUÁT VỀ LỊCH SỬ VƯƠNG QUỐC CHAMPA


(Từ đầu cho đến thế kỷ XV)


 


I. Điều kiện tự nhiên miền Trung Việt Nam.


          Xứ sở: Đất đai của Campa (Chiêm thành) xưa gồm từ Hoành Sơn (Quảng B́nh) đến B́nh Thuận. Đất hẹp, một mặt dựa vào dăy Trường Sơn, một mặt tiếp giáp bờ. Bờ bé lởm chởm, cú ớt đồng bằng. Vương quốc cỏ này có tên chữ Phạn là Nagara Campơ (Vương quốc Chiêm thành). Campơ là tên một loài hoa (và cây) thường thường là trắng, rất thơm. Trong Ấn Độ cổ đại, tờn đú chỉ một quốc gia ở vào quận Bhagalpua ngày nay.


Theo phân vùng địa lư của nhà địa lư học Lê Bá Thảo, miền Trung Việt Nam (hay Trung bộ), tính từ Bắc Thanh Hoá đến Nam Phan Thiết, dài hơn 1500km. Diện tích toàn lănh thổ bằng 96.366 km2, 3/4  lănh thổ là núi rừng


          Tảng nền địa-văn hoá miền Trung không hoàn toàn trùng với lănh thổ địa lư. Xét về văn hoá Khảo cổ học, từ trước sau Công nguyên, Thanh Nghệ Tĩnh thuộc không gian văn hoá Đông Sơn, không gian văn hoá Việt cổ. Theo các nhà nghiên cứu th́ B́nh-Trị-Thiên là khu đệm giữa văn hoá Đông Sơn và văn hoá Sa Huỳnh giai đoạn trước công nguyên rồi giữa văn hoá Việt và văn hoá Chăm thiên niên kỷ đầu Công nguyên.


          Dưới góc độ địa-văn hoá, địa h́nh miền Trung hẹp chiều ngang Tây-Đông với giới hạn Trường Sơn Nam -Tây, biển khơi-Đông. NƠu mô h́nh hoá địa thế này chúng ta sẽ có một trục dọc hẹp được phân cách và nối nhau bởi những đèo, nhánh núi chạy cắt ngang từ dăy Trường Sơn trải dài theo chiều dọc[1].


Xét về mặt kiến tạo địa lư, vùng đất của vương quốc cổ ChamPa xưa có thể được chia ra làm bốn khu vực chính tương đương với bốn đồng bằng lớn: 1. Khu vực đồng bằng B́nh-Trị-Thiên; 2. Khu vực đồng bằng Nam-Ngăi-Định; 3. Khu vực đồng bằng Phú Yên-Khánh Hoà và 4. Khu vực đồng bằng Ninh Thuận-B́nh Thuận. Mỗi khu vực địa lư trên đều có những nét vừa rất chung và cũng vừa rất riêng cả về kiến tạo địa h́nh, địa lư lẫn khí hậu.               


Ở phía bắc sau những bầu, phá và các cồn cát là một loạt những đồng bằng dài và hẹp của ba tỉnh: Quảng B́nh, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế. Trong đó, đồng bằng Thừa Thiên là đồng bằng rộng nhất trong vùng B́nh-Trị-Thiên (với diện tích khoảng 900km vuông).


          Từ Nam đèo Hải Vân cho tới giáp với Phú Yên là cả một chuỗi đồng bằng lớn nhỏ nối đuôi nhau chạy từ Bắc xuống Nam – vùng đồng bằng Nam-Ngăi-Định. Hầu hết những đồng bằng lớn ở đây, xét về mặt kiến tạo, đều là những vùng biển cũ được phù xa sông và phù sa biển bồi đắp nên. Nếu tính từ bắc vào, đồng bằng đầu tiên mở ra ngay phía Nam Hải Vân là đồng bằng Quảng Nam nằm chẹt vào giữa hai khối núi lớn Hải Vân và Ngọc Linh. Vùng đồng bằng rộng lớn này vốn là một vùng biển cũ, được h́nh thành lên do nước biển rút, do vận động nâng lên của dăy Trường Sơn Nam và do phù sa bồi của sông Thu Bồn. Đồng bằng Quảng Nam mở rộng ra cả vùng cửa sông Hội An về phía biển và vùng sông Tam Kỳ ở phía Nam.


          Vùng đồi nói sau lưng đồng bằng Quảng Nam không chỉ không hoang vu, cằn cỗi mà lại rộng lớn và ph́ nhiêu. Những đồi núi ở đây không quá cao (từ 200m đến 600m), có sườn thoai thoải và những thung lũng rộng được cấu tạo bằng phù sa cổ và phù sa mới


          Tiếp ngay sau đồng bằng Quảng Nam là vùng đồng bằng Quảng Ngăi rộng chừng 1200km vuông, bao gồm các thung lũng sông Trà Bồng, Sông Trà Khúc và sông Vệ. Vùng đồi núi phía Tây của Quảng Ngăi cũng rất trù phú và có nhiều loại cây quư. Đặc biệt là vùng Trà Bồng có những rừng quế tự nhiên từ lâu đă nổi tiếng trong và ngoài nước[2].


          Vùng B́nh Định cũng là vùng đất được cấu thành từ những đồng bằng kế tiếp nhau từ Bắc xuống Nam, và phân cách nhau bởi những khối núi. Đất phù sa của đồng bằng B́nh Định không chỉ màu mỡ mà c̣n được cả một mạng lưới sông ng̣i cung cấp nước. V́ thế đất đai ở đây rất phù hợp cho việc trồng lúa, mía, lạc, khoai dừa. C̣n vùng đồi núi phía Tây khá bằng phẳng và tươi tốt trù phú


          Vùng đất Nam-Ngăi-Định c̣n có một vùng biển sâu nhiều cá và những cảng biển lớn, thuận tiện cho thuyền bè qua lại giao lưu, buôn bán. Tất cả những điều kiện tự nhiên ưu đăi đó từ xưa đă biến vùng đất này thành noi giàu có, cư dân đông đúc[3].


          Từ phía Nam của tỉnh B́nh Định, dăy núi Trường Sơn tiến dần ra sát biển, khép vùng đồng bằng Nam-Ngăi-Định lại. Sau khối núi đèo Cù Mông, đất đai lại mở rộng ra thành đồng bằng Phú Yên trù phú. Về mặt địa h́nh, đồng bằng Phú Yên được hợp thành từ hai đồng bằng chính là: đồng bằng Tuy An ở phía Bắc có ḍng sông Cái chảy qua, và đồng bằng Tuy Hoà ở phía Nam có ḍng sông Ba (sông Đà Rằng) bồi đắp nên. ở phía Nam của các đồng bằng Phú Yên là một dải đồng bằng thuộc tỉnh Khánh Hoà, với đồng bằng Ninh Hoà, đồng bằng Nha Trang, đồng bằng Ba Ng̣i… Mặc dầu đất đai và khí hậu ở vùng Phú Yên, Khánh Hoà không thật thích hợp lắm cho việc canh tác nông nghiệp, nhưng vùng đất này lại được thiên nhiên ưu đăi cho có nhiều sản vật quư hiếm như cá biển, chim yến, cây trái, các loại gỗ quư, trong đó đặc biệt là trầm hương…Không phải ngẫu nhiên mà Khánh Hoà xưa được mệnh danh là xứ Trầm hương.


          Khu đồng bằng cuối cùng của miền Trung và cũng là vùng đất cực Nam của vương quốc Champa cổ là vùng đồng bằng khô hạn Ninh Thuận – B́nh Thuận. Nơi đây có những đồng bằng nhỏ hẹp và khô cằn hơn so với các vùng khác, như đồng bằng Phan Rang, đồng bằng Tuy Phong (Ninh Thuận), đồng bằng Phan Rí (B́nh Thuận).


          Mặc dầu có những thay đổi Ưt nhiều cả về cảnh quan địa lư lẫn khí hậu từ vùng này sang vùng khác, dải đồng bằng miền Trung từ đèo Ngang ở phía Bắc đến ṃi Kê Gà ở phía Nam vẫn có những nét chung, thống nhất của một khu vực địa lư. Đặc điểm nổi bật đầu tiên về kiến tạo địa h́nh và cảnh quan địa lư của miền đất này là sự gắn bó mật thiết với hai yếu tố núi và biển: Dăy Trường Sơn ở phía Tây và biển Đông ở phía Đông. Các đồng bằng không lớn và kế tiếp nhau chạy dài từ Bắc xuống Nam giữa một bên là núi với một bên là biển. ở nhiều nơi, ngay trên đồng bằng cũng rải rác lô nhô đồi và núi. C̣n dăy Trường Sơn th́ có lúc chạy ra tới sát biển làm cho các đồng bằng bị thu hẹp lại hoặc phân tách các đồng bằng ra với nhau. Cả một vùng biển dài không chỉ tác động đến khí hậu mà c̣n ảnh hưởng đến việc h́nh thành ra nhiều dạng địa h́nh đặc biệt ở miền Trung như các cồn cát duyên hải, các băi phu sa biển, vông và phá.


Đặc điểm lớn thứ hai của vùng đồng bằng miền Trung là địa h́nh thiên nhiên của các ḍng sông ngắn. Do tính chất địa h́nh núi và biển gần như nằm sát nhau, các con sông ở đây đều ngắn, đều chủ yếu chảy theo hướng Tây-Đông từ núi xuống biển, và mỗi con sông đều là một hệ thống riêng rẽ. Những con sông này, cùng với đường bờ biển cao và khúc khuỷu ở miền Trung đă tạo thành những vịnh - cảng là nơi đậu thuyền rất tốt. Bờ biển miền Trung lồi lơm, ngoài bờ là những đảo, cụm đảo được h́nh thành trong quá tŕnh tạo sơn như: Ḥn Gió (Quảng B́nh), đảo Cồn Cỏ (Quảng Trị), Cù Lao Chàm (Quảng Nam), Lư Sơn-Cù Lao Ré (Quảng Ngăi), Ḥn Tre (Khánh Hoà), Phú Quư (Ninh-B́nh Thuận)…Những đảo này một mặt là b́nh phong ngăn chặn săng gió biển Đông, mặt khác chúng c̣n là tuyến đầu trong quá tŕnh giao thoa văn hoá khu vực và quốc tế, nối Đông Nam Á lục địa với Đông Nam Á hải đảo, nối Bắc-Nam và Đông-Tây.


          Mặc dù từ Bắc vào Nam, khí hậu có Ưt nhiều thay đổi qua các khu vực, nhưng về cơ bản, khí hậu miền Trung vẫn là khí hậu nhiệt đới gió mùa, nắng Èm mưa nhiều, phù hợp với sự phát triển của nhiều loại động thực vật, và thuận lợi cho việc sinh sống của con người.


          Chính đặc điểm địa h́nh và khí hậu đó đă tạo nên cả một thảm thực vật gần như thống nhất suốt dải đất miền Trung: thảm rừng phi lao, rừng thưa lá trên cát và đồi trọc ven biển, trảng cỏ thứ sinh, rừng kín thứ sinh. Dọc miền núi ở Trung Bộ ngày nay vẫn c̣n nhiều rừng có  nhiều loại gỗ quư


Trên tảng nền môi sinh như vậy của miền Trung Việt Nam, đă từng tồn tại trong lịch sử những n̉n văn hoá rực rỡ, mà dấu Ên vật chất vẫn c̣n tồn tại đến ngày nay.


Cư dân Sa Huỳnh đă có cái nh́n về biển, giao lưu xa và chặt chẽ với miền cao nguyên Thượng Lào-Ḳ Rạt và miền hải đảo Thái B́nh Dương, giao lưu với cư dân Đông Sơn và dân Đồng Nai theo cả đường bộ và đường ven biển.[4]


Cũng trên chính mảnh đất Êy, đă từng chứng kiến sự ra đời và phát triển của một trong những vương quốc ra đời sớm nhất, có thời gian tồn tại lâu dài nhất trong lịch sử cổ trung đại Đông Nam Á, đó là vương quốc Champa. Người Chàm cổ đă xây dựng được một cơ cấu kinh tế tổng hợp bao hàm nghề nông trồng lúa nước (hai mùa) dâu tằm – tám lứa kén/năm – bông và vải nhuộm nhiều màu, hoa màu, nghề rừng – khai thác lâm thổ sản: gỗ quư, quế, trầm hương…nghề thủ công: rèn sắt, dệt vải, lụa, chế tạo đồ thuỷ tinh, đá ngọc, khai khoáng (nhất là mỏ vàng) và làm đồ mĩ nghệ vàng bạc – phát triển nghề buôn bán đường biển và đường sông, đường núi. Cơ cấu kinh tế tổng hợp của Champa là sự kế tục và sự phát huy trên một tŕnh độ cao với một chất lượng mới cái cơ cấu có sẵn của phức hệ văn hoá Sa Huỳnh[5].


 


II. Mét số vấn đề về lịch sử vương quốc Champa.


1. Xứ sở, thực vật, động vật và dân cư


Xứ sở: Đất đai của Campa (Chiêm thành) xưa gồm từ Hoành Sơn (Quảng B́nh) đến B́nh Thuận. Đất hẹp, một mặt dựa vào dăy Trường Sơn, một mặt tiếp giáp bờ. Bờ bé lởm chởm, cú ớt đồng bằng.


Vương quốc cỏ này có tên chữ Phạn là Nagara Campơ (Vương quốc Chiêm thành). Campơ là tên một loài hoa (và cây) thường thường là trắng, rất thơm. Trong Ấn Độ cổ đại, tờn đú chỉ một quốc gia ở vào quận Bhagalpua ngày nay.


Cái tên Campờ này được thấy ghi lần đầu tiên ở trên bia tại Mễ sơn của vua Cambhuvarman (Phạm Phàn Chí) sống vào năm629 công nguyên. Người ngoại quốc viết tờn đú bằng cách phiên âm mỗi người một khác: Mares Polo viết là Cyamba. Odoric de Pordenone viết là Campe. Aymonier viết là Tchampa, Beryaine viết là Campa, Finol và Maspero viết là Champa. Người Trung Quốc gọi bằng nhiều danh hiệu: Lâm ấp  Hoàn vương và Chiêm thành (Chiêm là phiên âm chữ Campa). Ta gọi theo Trung Quốc, thường gọi là Chăm.


Thực vật: Trồng lúa, đụa, dưa hấu, kê, vừng, đay, ngô, hồ tiêu, cam, chuối, dừa, sen, cọ, gồi, dơu, bụng.


Gỗ mun, đinh hương, bạch đàn, long năo, hồi hương, ḷ hội, mây, tre.


Khoáng vật: vàng có nhiều (ở mỏ, trong ḍng sông), bạc, đồng, sắt, thiếc đều nhiều; ngọc lưu li, hổ phách (đồ cống); đá bồ tát (đá mài mịn); san hô, ngọc trai.


Động vật: nhiều voi thuần dưỡng, ngà, tê giác, hổ, khỉ, tinh tinh (vượn), công, vẹt lông trắng (cống).


Ḅ: đầu tiên không có ngựa, sau vua Trung Quốc tặng cho ngựa, mới gây giống.


Nhiều cá, đồi mồi.


Dân cư: Dân cư có Chăm và Mọi miền Thượng. Trong đó, người Djarai, Radộ là cùng chủng tộc với Chăm, nói tiếng giống hệt Chăm (thuộc ngôn ngữ malayo-polynộsien).


Người Chăm: da đen, mắt sâu, tóc quăn, mũi hếch. Y phục (giống Mă lai): dùng mảnh vải (kama) quấn quanh người từ phải sang trái; mùa đông mặc áo dài; người quyền quư và vua đi giày da. Bối tóc, phụ nữ bối thành h́nh cỏi bỳa; xơu lỗ tai, đeo hoa tai bằng kim loại. Rất sạch sẽ, mỗi ngày tắm nhiều lần. xức bằng long năo, xạ hương. Ướp quần áo bằng gỗ thơm.


2. Vương quốc Champa là ǵ?


          Vương quốc được biết đến là Champa triển nở dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương ở trong khu vực mà bây giê là miền Trung Việt Nam. Vương quốc được ghi chép trong thư tịch của lịch sử Trung Quốc và Việt Nam với những cái tên khác nhau: Lâm Êp, Hoàn Vương và Champa. Với phạm vi lịch sử là  mét giai đoạn 1600 năm từ khi thành lập năm 192 sau Công nguyên đến khi mất chủ quyền vào năm 1835, vương quốc này trải qua một thời gian dài hơn bất kỳ nơi nào khác ở Đông Nam Á. Trong thời gian này, khi nó phải chiến đấu khốc liệt chống lại các nhóm téc người khác nhau và các triều đại ở nước láng giềng Trung Quốc, Việt Nam, Campuchia, Thái Lan và Indonesia, nó h́nh thành những mối quan hệ thương mại với Ên Độ, A Rập, Trung Quốc, Nhật Bản và Philippin và tạo ra sự thịnh vượng đáng kinh ngạc. Marco Polo, người đă từng đặt chân lên đây vào năm 1285, đă mô tả nó như một Vương quốc giàu có. Các di tích thờ cóng hay thủ phủ như Mỹ Sơn, Đồng Dương, Po Nagar, và Chà Bàn…minh chứng cao sù huy hoàng của quá khứ.


Do án ngữ một vị trí quan trọng trên con đường giao lưu quốc tế Đông - Tây, những thuyền bè ngược xuôi trong hệ thống mậu dịch châu á đều phải dừng chân nơi đây, nên người Chăm đă từng có những mối liên hệ rộng răi với các nước trong và noài khu vực. Sách An nam chí lược của Lê Tắc biên soạn vào năm 1333, phần Các dân biên cảnh phục dịch có đưa lời b́nh về vị trí tự nhiên của Chiêm Thành (ChamPa): “Nước này ở ven biển, những thuyền buôn của Trung Hoa vượt biển đi lại với các nước ngoại phiên đều tụ ở đây, để lấy củi, nước chứa. Đấy là bến thứ nhất ở phương Nam”. Nói một cách h́nh ảnh, những con thuyền đó “bám” vào bờ biển Champa, Ưt nhất là 500km nếu tính từ ṃi Varella để đi vào vịnh Xiêm hay tới eo Malacca và ngược lại, từ eo Malacca đi vào vịnh Bắc Bộ để tới được trung Hoa. Tuy nhiên, điều quan trọng để vùng bờ biển Champa xưa được biết đến như một tuyến đường giao thông và sau đó là thương mại, văn hoá không phải chỉ do vị trí tự nhiên của nó, mà chính v́ đó là vùng cư trú của một cộng đồng dân cư có nhà nước riêng của ḿnh, có một nền văn hoá phát triển không thua kém bất cứ một nền văn hoá đương thời nào. Và cũng chính họ là chủ thể của những mối quan hệ đến và đi trên vùng biển này.


Nằm ở vị trí trung độ trên con đường giao lưu quốc tế Đông Tây, Trung Quốc với Ên Độ và xa hơn, tới Địa Trung Hải, Đông Nam Á sớm trở thành một đầu mối mậu dịch hàng hải quốc tế. Từ đầu công nguyên, những con thuyền của cư dân trong vùng, thuyền của người Ên, người Hoa cùng với nền văn hoá của họ đă thường xuyên qua lại vùng Đông Nam Á.


          Trên con đường giao lưu đó, Champa chiếm lĩnh một trong những vị trí quan trọng và thuận lợi nhất. Các cảng của Champa đóng vai tṛ như những cảng cuối cùng trước khi những con thuyền vượt qua vịnh Bắc Bộ vào vùng biển Trung Hoa, và là nơi dừng chân đầu tiên khi từ Trung Quốc đến Malacca, vịnh Thái Lan hay gần hơn là tới vùng hạ lưu châu thổ sông Mê Kông mà 7 thế kỷ đầu công nguyên thuộc vương quốc Phù Nam. Hành tŕnh của người Trung Hoa qua vùng biển Champa quen thuộc đến nỗi được Tân Đường Thư (quyển 222 hạ, Liệt truyện 147 hạ - Nam man) ghi chép lại như sau: “Từ Quảng Châu đi biển về Đông Nam 200 dặm, rồi giương buồm đi về phía Tây, chếch về phía Nam hai ngày lại đi về phía Tây Nam ba ngày th́ đến núi Chiêm Bất Lao, lại đi nửa ngày đến Châu Bôn Đà Lăng (Panduranga?). Có thể thấy, hầu hết các tuyến đường biển đến Trung Hoa hay từ Trung Hoa đi qua Ên Độ đều rẽ qua các cảng biển Champa. Từ một đầu mối giao thông quan trọng, bờ biển Champa đă sớm trở thành một đầu mối giao thương, nơi trao đổi sản vật và sản phẩm với những thuyền bè qua lại.


          Sù cho phép của điều kiện tự nhiên và thăi quen văn hoá téc người đă sớm h́nh thành ở người Chàm một truyền thống đánh cá, đóng thuyền để đi biển dạn dày kinh nghiệm. Đến cuối thế kỷ IV, những người Nam Đảo, trong đó că người Chàm đă đóng vai tṛ như những “con thoi” trên vùng biển Đông và Nam Á, gắn bó những ḥn đảo Đông Nam Á trong hệ thống thương mại thế giới. Trong những tuyến giao thương mà người Nam Đảo có liên quan trực tiếp, th́ Champa giữ một vị trí quan trọng nhất trên tuyến đường biển Nam Trung Hoa. Ngay từ đầu công nguyên bờ biển Champa đă sớm là nơi thu hót những tàu bè gần xa cập bến v́ nhiều lƯ do khác nhau. Họ ghé vào cửa Đại Chiêm, Cảng Panduraga, Thị Nại (Vijaya) để lấy nước, thực phẩm, để nghỉ ngơi hay tránh những cơn băo với mật độ khá dày ở vùng biển này. Biển là điều kiện đầu tiên để Champa mở ra con đường giao lưu với các nước trong và ngoài khu vực. Và v́ thế những nước có quan hệ với Champa ngay từ những buổi đầu của lịch sử  c̣ng là những nước có thuyền bè đi qua lại vùng biển Đông Nam Á và vùng biển Champa.


3. Cấu thành téc người ở ChamPa


          Đất Champa trong tiến tŕnh lịch sử đă từng có lúc vươn ra đến Đèo Ngang (Quảng B́nh) và kéo dài đến Nam Ninh Thuận. Về phía Đông giáp bờ biển, về phía Tây có lúc vươn tới bờ sông Me Kông như Bia Vat Luang Kau gần Bassac (thế kỷ V) cho biết và cũng có lóc  đến miền cao nguyên Trung bé. Căn cứ trên bia kư phát hiện gần đền Vat Phu, Champassak, Nam Lào, th́ Champa vào thế kỷ V đă vươn đến bờ sông Mêkông; rồi bia Kon Klor, Kon Tum, có niên đại 914 sau Công nguyên, nói về một địa phương tên là Mahindravarman xây dựng một cơ sở tôn giáo thờ Mahindra – Lokesvara; bia kư tháp Yang Praong, Đắc Lắc cho biết Jaya Simhavarman III đă xây tháp vào cuối thế kỷ XIII - đầu thế kỷ XIV…Như vậy là “…Biên giới phía Tây của Champa dă chạy qua vùng cao nguyên phía Tây dải Trường Sơn…Và rồi nhiều pho tượng (Nandin, Siva và các thần Ên Độ giáo khác) đă được t́m thấy trong các tỉnh Gia Lai, Kon Tum, Đắc Lắc và Lâm Đồng cho phép ta nghĩ rằng toàn bộ vùng này nằm trong quỹ đạo tôn giáo của Champa”. Khu vực miền núi là bộ phận hợp thành của Champa, chứ không phải là một vùng bị chinh phục và bị sáp nhập, một thuộc địa của Champa, thể hiện qua cuộc liên kết đấu tranh rất quyết liệt của các cư dân vùng này (người Churu, Cơ Ho, Raglai, Xtiêng) chống các cuộc xâm lược từ bên ngoài, như các văn bản lịch sử bằng tiếng Chăm đă ghi lại. Hơn nữa, nhiều Vua Champa cũng có gốc gác miền núi, như vua Po Rome trị v́ từ 1627 đến 1651 là gốc Churu…Có thể khẳng định rằng, Nagara Champa là một nước đa téc người và mọi téc người đều có quyền b́nh đẳng như nhau về chính trị và xă hội.


          Champa trong tiến tŕnh lịch sử lại không phải là một vương quốc thống nhất, mà là một kiểu Liên bang (Copéderation) gồm năm công quốc (principautes) = Indrapura (từ Quảng B́nh đến đèo Hải Vân), Amaravati (Quảng Nam – Quảng Ngăi), Vijaya (B́nh Định – Phú Yên), Kauthara (Khánh Hoà), Panduranga (Ninh Thuận – B́nh Thuận)[6]. Thành phần téc người ở mỗi công quốc khác biệt nhau, tuy trụ cột vẫn là người ChamPa. Cho nên, tuy vẫn là văn hoá Champa, song sắc thái ở mỗi tiểu quốc có những đặc trưng riêng.[7] Theo giới học giả gần đây, vương quốc Champa là một liên minh lỏng lẻo của các chính thể các cỡ của vùng này, và Vua của Champa đă từng là bất cứ người nào làm lănh đạo một thời có quyền lực lớn nhất (ông Vua giữa các Vua) (Momoki 1996).


3. Những điều kiện kinh tế và xă hội.


          Địa thế của Champa khá đặc biệt, một dải đất hẹp chạy dài giữa đại dương và núi. Dân cư chủ yếu sống rải rác ven biển và trong nội địa th́ cư dân cư trú bên những ḍng sông. Chẳng hạn như vùng sông Thu Bồn , là một địa điểm quần cư của nhiều thời kỳ nối tiếp nhau cho đến thế kỷ XII, XIII với những trung tâm Trà Kiệu, Đồng Dương. Sông Trà gắn với những di tích quần cư Chánh lé và thành Châu Sa; Sông Côn gắn với Trà Bàn…G.Maspero dùa vào tên gọi trong bi kư đoán Champa chia làm 4 khu vực là: Amaravati (ứng với Quảng Nam), Vijaya (Quy Nhơn), Kauthara (Khánh hoà), Panduranga (Phan rang). Hoàn toàn không có ǵ chắc chắn đây là các khu vực hành chính, cũng như không chắc chắn là chỉ có 4 khu vực như trên. Tống sử ghi chép lại rằng Champa được chia làm 38 châu. Bi kư c̣n kể tên các đơn vị hành chính khác, như Pramana mà G.Maspero đoán là tỉnh và Vijaya đoán là huyện.


          Điều đáng nói ở đây là địa h́nh Champa bị chia cắt bởi các đèo chạy cắt ngang đổ từ nói ra biển tạo nên các vùng đồng bằng nhỏ và liên lạc với nhau bằng đường bộ rất khó khăn. Người ta liên lạc chủ yếu với nhau bằng đường biển. Nhưng điều đó không phải là điều kiện đủ để mỗi vùng tạo thành một tiểu vương quốc tự trị. Nhiều di tích văn hoá Chăm c̣n lại đến ngày nay cho thấy các vùng ở Champa tương đối độc lập về không gian nhưng vẫn tiếp nối nhau về mặt thời gian. Xét vị trí, vai tṛ của các kinh đô, ta sẽ thấy rơ hơn điều này.


          Sinhapura là kinh đô duy nhất của Champa cho đến cuối thế kỷ VII, đầu thế kỷ VIII. Từ giữa thế kỷ VIII đến giữa thế kỷ IX Virapura là nơi tập trung về quyền lực chính trị và kinh tế trên toàn vương quốc. Không phải ngẫu nhiên mà vào thế kỷ VIII, Java để chứng tỏ sức mạnh thuỷ quân của ḿnh đối với toàn khu vực đă liên tiếp tấn công các nước Đông Nam Á lục địa. Hai lần đánh Champa là đánh kinh đô miền Nam Virapura và phá huỷ Kauthara. Người Java không tấn công vào Trà Kiệu hay thánh địa Mỹ Sơn giàu có trong khi họ đă đánh cướp đến tận vùng đồng bằng Bắc Bộ. Trường hợp cá biệt vào nửa sau thế kỷ XII ChamPa mới có hai kinh đô song song tồn tại nhưng là dưới sự tác động của những yếu tố bên ngoài.


Simhapura, Virapura rồi lại Đồng Dương, Vijaya, trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau kinh đô lại dịch chuyển. Mỗi kinh đô đại diện cho quyền lực, sự thống nhất, tập trung của vương quốc vào mỗi thời kỳ lịch sử. Nhưng mặt khác, sự dịch chuyển kinh đô cũng có nghĩa là sự dịch chuyển quyền lực, thay thế quyền lực giữa hai bộ phận quư téc Bắc-Nam. Và như thế sẽ có thể giúp chứng minh xu hướng thống nhất và phân liệt luôn có mặt trong lịch sử Champa, thể hiện cả trong các mối quan hệ với bên ngoài.


Dấu vết của những kinh thành cũ như Trà Kiệu, Đồng Dương, Chà Bàn…đều gắn với những ḍng sông và có mối liên hệ mật thiết với biển khơi. Nhiều tháp Chăm được xây dựng gần biển, thậm chí sát biển, không chỉ phục vụ cho nhu cầu tinh thần của nhân dân địa phương mà c̣n cho cả thuyền nhân nhiều nước…


Champa nổi tiếng là nơi có nhiều sản vật quư hiếm. Vàng, các loại gỗ thơm, ngà voi, sừng tê luôn được nhắc tới trong các nguồn tư liệu nước ngoài. người ta gọi Champa là xứ sở của trầm hương, trong đó tập trung nhiều nhất ở vùng Kauthara. Trầm hương là một mặt hàng quư dùng để cống phẩm và trao đổi buôn bán.


Nhà nghiên cứu Y.Sakurai cho rằng Champa là một trong những thể chế có khuynh hướng buôn bán nhỏ, hướng nền kinh tế ra bên ngoài, một đặc điểm của những quốc gia Đông Nam Á có lănh thổ hẹp, dân cư Ưt, giàu lâm sản nhưng không có nền nông nghiệp phát triển[8] . Và nếu theo quan điểm này th́ Champa “chỉ là một thể chế biển?”. K.Hall th́ cho rằng hệ thống chính trị, kinh tế Champa “giống các quốc gia sông nước Malay hơn là những quốc gia láng giêng làm nông nghiệp trồng lúa nước ở lục địa về phía Tây và phía Bắc của nó”, và Hall c̣ng cho rằng: “kinh tế Champa chủ yếu là dùa trên hoạt động cướp đoạt bằng đường biển”[9]. Nhưng học Momoki Shiro đă không đồng ư kiến với K.Hall, khi ông cho rằng: “…chóng ta không thể coi ChamPa là vương quốc cướp biển như Srivijaya. ChamPa cũng không có một nền kinh tế hoàn toàn dùa vào cướp bóc như Sulu trong những thế kỷ XVIII-XIX, mặc dù đă có không Ưt tù nhân và nô lệ được mua về ở ChamPa”[10].


Nhiều nhà nghiên cứu cổ điển đă nói đến sự tồn tại và phát triển của kinh tế nông nghiệp ở Champa. Dùa trên nguồn tư liệu trong thư tịch cổ Trung Hoa, về sản phẩm nông nghiệp của Champa, G.Maspero cho rằng: “Có Ưt đồng bằng, đất trồng trọt th́ hiếm, Ưt lúa nhưng nhiều rau đậu…, trồng nhiều cây ắn quả…trồng dâu để nuôi tằm và trồng bông. Đến mùa bông nở, bông trắng như lông ngỗng. Người ta lấy bông ra rồi kéo sợi để dệt vải thô…, nhuộm đi dệt thành vải ngụ sắc và vải lốm đốm”. Trong những sản phẩm kể trên th́ vải bông đă đạt được tŕnh độ phát triển cao, một thứ hàng quư dùng để cống phẩm và trao đổi.


Chủ nhân văn hoá Champa đă biết khai thác và tận dụng mọi thế mạnh của các hệ sinh thái. Theo các nguồn thư tịch Hoa – Tây, Champa đă tranh thủ xuất khẩu đủ mọi thứ, từ nước lă ở các giếng Chàm ven biển đến Trầm hương, mă năo ở núi rừng, duy chỉ có một món hàng cấm xuất khẩu, v́ thiếu, đó là lúa gạo[11]. Ở vùng ven biển, có cả một hệ thống giếng Chàm để cung cấp nước ngọt cho tàu thuyền quốc tế ven biển.


Người Chàm và văn hoá Champa trong khoảng 15-16 thế kỷ tồn tại đă thích ứng và ứng biến tài t́nh với mọi hệ sinh thái từ núi rừng tới biển khơi.[12]


Cư dân Champa là những thương nhân giỏi. Dùa theo những ḍng sông lớn ở miền Trung Việt Nam, họ biết thiết lập một hệ thống trao đổi hàng hoá từ miền xuôi lên miền ngược, một mô h́nh kinh tế rất phù hợp với địa lư của vùng đất này, giữa cư dân miền biển và miền núi; chẳng hạn, có thể họ đă h́nh thành một hệ thống nội thương để trao đổi các loại muối, mắm, tôm, các khô, đường mía, vải sợi, đồ gốm, mă năo, thuỷ tinh, đồ đồng thau…từ miền xuôi để đổi lấy những loại lâm sản quư như: Trầm hương, quế, mật ong, hồ tiêu, các loại gia vị, ngà voi, sừng tê ngưu, thó lạ, chim quư, các loại cây gỗ quư…của các cư dân miền ngược; nguồn hàng quư hiếm này được tập trung tại các cảng – thị, nơi có hệ thống ngoại thương để trao đổi buôn bán với các thương nhân Ên Độ, Ả Rập, Trung Hoa, Nhật Bản…Có nhiều cảng – thị lớn được thiết lập tại các cửa biển trọng yếu như cửa Nhật Lệ (Quảng B́nh), cửa Việt (Quảng Trị), cửa Tư Hiền (Thừa Thiên Huế), cửa Đại Chiêm (Hội An, Quảng Nam), cửa Thi Nại (Quy Nhơn), cửa Nha Trang (Khánh Hoà), cửa Phan Rang (Ninh Thuận), cửa Phan Rí, cửa Phan Thiết (B́nh Thuận)[13]


III. Sự h́nh thành các tiểu quốc đầu tiên


1. Truyền thuyết


Theo truyền thuyết, các vua Chăm  thuộc về 2 nguồn gốc:


a) Thị tộc Cau: Vào năm 591 thời Dvapara, có một vua tên là Vieitrasagara hay Vieitra dựng một cái mukhalinga của Cri Cambhu ở trên đất Kauthara (Khánh Hoà). Truyền thuyết này chéo theo truyền thuyết Ấn Độ, không có giá trị lịch sử.

b) Thị tộc Dừa: Truyền thuyết này mù mờ. Một maharsi tên là Birrgu được Ica uỷ nhiệm dựng một linga của Cri Cambhubhadracvara và lập nên nước Champa. Rồi Cambhu lại phái Uroja xuống làm vua. Vậy Uroja là ḍng dơi của Paramecvara. Và sau này, những ai làm vua xứ Campapura cũng đều tự xưng ḿnh là ḍng dơi Uroja. Chỉ có những kẻ tiếm ngôi muốn hợp pháp hoá việc thoán nghịch của ḿnh, mới tự xưng là họ xa của Uroja mà thôi.

Mặt khác, ta biết vua Bhudravarman I tức Phạm Hồ (Tu) Đạt (làm vua 399-413) dựng linga này và vua Cambhuvarman (Phạm Phạn Chí) (làm vua đầu thế kỷ 7) đă dựng lại nó sau khi nó bị phá huỷ. Người Chăm trong thời vương quốc Chăm Pa lịch sử bao gồm hai bộ tộc chính là bộ tộc Dừa (Narikelavamsa) và Cau (Kramukavamsa). Bộ tộc Dừa sống ở Amaravati và Vijaya trong khi bộ tộc Cau sống ở Kauthara và Pandaranga. Hai bộ tộc có những cách sinh hoạt và trang phục khác nhau và có nhiều lợi ích xung đột dẫn đến tranh chấp thậm chí chiến tranh. Nhưng trong lịch sử vương quốc Chăm Pa các mối xung đột này thường được giải quyết để duy tŕ sự thống nhất của đất nước thông qua hôn nhân. Bên cạnh người Chăm, chủ nhân vương quốc Chăm Pa xưa cũn cú cả các tộc người thiểu số gốc Nam Đảo vàMon-Khmer và ở phía Bắc Chăm Pa cũn cú cả người Việt.


=> Lâm Ấp: Theo sử liệu Trung Quốc, vương quốc Chăm Pa đă được biết đến đầu tiên là vương quốc Lâm Ấp bắt đầu từ năm 192 ở khu vực Huế ngày nay, sau cuộc khởi nghĩa của người dân địa phương chống lại nhà Hán. Trong nhiều thế kỷ sau đó, quân đội Trung Quốc đă nhiều lần cố gắng chiếm lại khu vực này nhưng không thành công.


Từ nước láng giềng Phù Nam ở phía tây và nam, Lâm Ấp nhanh chóng hấp thu nền văn minh Ấn Độ. Các học giả đă xác định thời điểm bắt đầu của Chăm Pa là thế kỷ thứ 4 sau Công nguyên, khi quá tŕnh Ấn hóa đang diễn ra. Đơy chớnh là giai đoạn mà người Chăm đă bắt đầu cú cỏc văn bản mô tả trờn đỏ bằng chữ Phạn và bằng chữ Chăm, và họ đó có bộ chữ cái hoàn chỉnh để ghi lại tiếng nói của người Chăm.


Vị vua đầu tiên được mô tả trong văn bia là Bhadravarman, cai trị từ năm 349 đến 361. Ở thánh địa Mỹ Sơn, vua Bhadravarman đă xây dựng nên ngôi đền thờ thần có tên là Bhadresvara, cái tên là sự kết hợp giữa tên của nhà vua và tên của thần Shiva, vị thần của các thần trong Ấn Độ giáo. Việc thờ vua như thờ thần, chẳng hạn như thờ với tên thần Bhadresvara hay cỏc tờn khỏc vẫn tiếp diễn trong các thế kỷ sau đó.


Vào thời Bhadravarman, kinh đô của Lâm Ấp là kinh thành Simhapura ("thành phố Sư tử"), nằm ở dọc hai con sông và bao quanh bởi tường thành có chu vi dài đến tám dặm. Theo ghi chép lại của một người Trung Quốc th́ người Lâm Ấp vừa ưa thích ca nhạc nhưng cũng lại hiếu chiến, và có "mắt sâu, mũi thẳng và cao, và tóc đen và xoăn".


Cũng theo tài liệu Trung Quốc, Sambhuvarman lên ngôi vua Lâm Ấp năm 529. Các tài liệu cũng mô tả vị vua này đă cho khôi phục lại ngôi đền thờ Bhadresvara sau một vụ cháy. Sambhuvarman cũng đă cử sứ thần sang cống tuế Trung Quốc, và đă xâm lược không thành phần đất mà ngày nay là miền Bắc Việt Nam. Năm 605, tướng Lưu Phương nhà Tùy xâm lược Lâm Ấp, và đă chiến thắng sau khi dụ tượng binh của Lâm Ấp đến và tiêu diệt tại trận địa mà trước đó ông đă cho đào nhiều hố nhỏ và phủ cỏ lên. Vào khoảng những năm 620, các vua Lâm Ấp đă cử nhiều sứ thần sang nhà Đường và xin được làm nước phiên thuộc của Trung Quốc.


Các tài liệu Trung Quốc ghi nhận cái chết của vị vua cuối cùng của Lâm Ấp là vào khoảng năm 756 sau Công nguyên. Sau đó trong một thời gian dài, cỏc sỏch sử Trung quốc gọi Chăm Pa là "Hoàn Vương". Tài liệu Trung Quốc sớm nhất sử dụng tờn cú dạng "Chăm Pa" là vào năm 877, tuy nhiên, những cái tên như vậy đă được người Chăm sử dụng muộn nhất là từ năm 629, và người Khmer đó dựng muộn nhất là từ năm 657.


2. Thời hoàng kim


Từ thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 10, người Chăm kiểm soát việc buôn bánhồ tiêu và tơ lụa giữa Trung Quốc, Ấn Độ, Indonesia, và đế quốc Abbassid ởBaghdad. Người Chăm c̣n bổ sung thêm cho nguồn thu nhập của ḿnh từ thương mại, không chỉ bằng việc xuất khẩu ngà voi và trầm hương mà c̣n bằng cả các hoạt động cướp phá trên biển và các nước láng giềng ven biển.Thời kỳ hưng thịnh của Kauthara.


Vào thế kỷ thứ 8, trung tâm chính trị của Chăm Pa đă tạm thời chuyển từ Mỹ Sơn xuống khu vực Panduranga và Kauthara, với trung tâm ở quanh quần thể đền tháp là Tháp Bà - Po Nagar ở gần Nha Trang ngày nay nơi để thờ nữ thần đất Yan Po Nagar. Năm 774, người Java đă phá hủy Kauthara, đốt đền thờ Po Nagar, và mang đi tượng Shiva. Vua Chăm là Satyavarman đă đuổi theo quân giặc và đánh bại chúng trong một trận thủy chiến. Năm 781, Satyavarman đă dựng bia tại Po Nagar, tuyên bố đă chiến thắng và kiểm soát toàn bộ khu vực và đă dựng lại đền. Năm 787, người Java lại đốt phá đền thờ Shiva ở gần Panduranga.


Triều đại Phật giáo ở Indrapura


Năm 875, vua Indravarman II đă xây dựng nên triều đại mới ởIndrapura (thành Đồng Dương, ở huyện Thăng B́nh, Việt Nam ngày nay). Vua Indravarman tự xưng là hậu duệ của Bhrigu trong sử thi Mahabharata, và quyết đoán rằng chính kinh thành Indrapura đă từng được chính Bhrigu ở thời cổ đại xây dựng nên[46].


Indravarman là vị vua Chăm đầu tiên theo Phật giáo Đại thừa và xem đây là tôn giáo chính thức. Ở trung tâm của Indrapura, ụng đó xây dựng một tu viện Phật giáo (vihara) để thờ bồ tát Lokesvara (Quán Thế Âm). Di tích này đă bị hủy hoại trong chiến tranh Việt Nam, chỉ c̣n lại một số h́nh ảnh và bản vẽ từ trước chiến tranh. Một số tượng đá từ tu viện cũng được ǵn giữ tại các viện bảo tàng ở Việt Nam. Các học giả đă gọi phong cách nghệ thuật điển h́nh tại Indrapura là phong cách Đồng Dương. Phong cách đặc trưng bởi tính năng động và tính hiện thực về mặt dân tộc học khi mô tả người Chăm. Các tác phẩm c̣n lại của phong cách này có một số bức tượng dvarapala hay hộ pháp rất dữ tợn trước đây được đặt ở quanh tu viện. Thời kỳ Phật giáo thống trị, Chăm Pa kết thúc năm 925, lúc phong cách Đồng Dương đă bắt đầu nhường bước cho các phong cách tiếp theo có mối liên hệ với sự phục hồi của đạo thờ thần Si-va.


Các vua của triều đại Indrapura đă xây dựng ở Mỹ Sơn một số đền tháp vào thế kỷ thứ 9 và thứ 10. Các đền tháp này ở Mỹ Sơn đă xác định một phong cách kiến trúc và nghệ thuật khác mà các học giả gọi là phong cách Mỹ Sơn A1, dùng để chỉ tất cả các di tích ở Mỹ Sơn điển h́nh cho phong cách này. Với sự chuyển đổi tôn giáo từ Phật giáo trở về Si-va giáo vào khoảng thế kỷ thứ 10, trung tâm tôn giáo của người Chăm cũng chuyển từ Đồng Dương trở về Mỹ Sơn.


 Suy yếu


Chăm Pa đạt đến đỉnh cao của văn minh Chăm ở Indrapura nằm tại khu vực Đồng Dương và Mỹ Sơn ngày nay. Các yếu tố dẫn đến sự suy yếu của Chăm Pa ở các thế kỷ sau chính là ở vị trí lư tưởng nằm trờn cỏc tuyến thương mại, dân số ít và thường xuyên có chiến tranh với các nước láng giếng là Đại Việt ở phía Bắc và Khmer ở phía Tây và Nam.


Lịch sử Bắc Chăm Pa (Indrapura và Vijaya) phát triển đồng thời với vương quốc láng giềng là nền văn minh Angkor của người Khmer nằm ở phía bắc hồ lớn Tonle Sap trên phần đất mà ngày nay là Campuchia. Sau khi vương triều Chăm ở Indrapura được thiết lập năm 875 th́ chỉ hai năm sau tức năm 877 tạiRoluos, vua Indravarman I đă thiết lập đế quốc Khmer. Lịch sử của Chăm Pa và đế quốc Khmer cũng đều phát triển rực rỡ trong thế kỷ 10 đến thế kỷ 12, rồi đều dần suy yếu và tan ră vào thế kỷ thứ 15. Năm 1238, đế quốc Khmer mất miền đất phía tây xung quanh Sukhothai sau một cuộc nổi dậy của ngườiXiêm. Thành công của cuộc nổi dậy không chỉ mở ra kỷ nguyên độc lập của người Xiêm mà c̣n báo trước sự tan ră của Angkor năm 1431 sau khi bị người Xiêm từ vương quốc Ayutthaya phá hủy và rồi bị sát nhập vào Sukhothai năm 1376. Sự suy yếu của Chăm Pa cũng diễn ra đồng thời với Angkor, dưới sức ép từ Đại Việt, quốc gia nằm ở miền Bắc Việt Nam ngày nay, và chấm hết khi kinh thành Vijaya (tức Chà Bàn) bị chinh phục và phá hủy vào năm 1471.


 Khmer xâm chiếm Kauthara


Năm 944 và 945, quân đội Khmer từ Angkor đă xâm chiếm khu vực Kauthara]. Khoảng năm 950, người Khmer đă phá hủy đền Po Nagar và lấy đi tượng nữ thần. Năm 960, vua Chăm là Jaya Indravaman I đă cử sứ thần sang nhà Tống (lúc này đóng đô ở Khai Phong). Năm 965, nhà vua đă cho xây dựng lại đền thờ Po Nagar và tượng nữ thần để thay thế cho bức tượng đă bị lấy đi.


theo http://www.doko.vn

Be the first person like this
Be the first person to like this
Be the first person like this
Page generated in 0.4571 seconds with 104 queries and GZIP enabled on 23.91.70.23.